TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2023/HS-ST
Ngày 15-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 626/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 665/2023/QĐST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thị O, sinh năm 1978 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: 1 H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Lê Thị L; có chồng là Trần Hải Đ và 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 368/HSST ngày 06/8/1999 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã được xóa); bị tạm giữ ngày 03/6/2023; ngày 12/6/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng gần 09 giờ ngày 03/6/2023, O đang đi sửa xe đạp điện tại khu vực đầu ngõ B H, quận L, thành phố Hải Phòng thì chồng O là Trần Hải Đ, sinh năm: 1979, chỗ ở: Số A L, phường Đ, quận L điều khiển xe mô tô biển số 15B1-952.48 qua đón O đi ăn sáng ở khu vực đường H, L, Hải Phòng (O không nhớ rõ địa chỉ). Ăn sáng xong trên đường đi về có người gọi điện cho Đ. Nghe điện thoại xong, Đ chở O về đến khu vực đầu ngõ B H, L, Hải Phòng, O xuống xe thì Đ có đưa cho O 01 gói giấy báo và nói với O “cầm về nhà cho anh, anh chạy đi có tý việc rồi anh về anh lấy”. O nhận gói giấy báo Đ đưa và biết bên trong gói giấy có ma túy nhưng không biết là ma túy loại gì. O cất gói giấy vào trong túi áo chống nắng phía trước bên trái O đang mặc. Sau đó, Đ đi đâu O không rõ còn O đi lấy xe đạp điện ở quán sửa xe đầu ngõ đi xe về nhà Đ tại số A L, Đ, Lê C, Hải Phòng thì thấy lực lượng Công an đến kiểm tra. Sợ bị lực lượng Công an phát hiện O đã dừng xe và thò tay vào túi áo khoác chống nắng phía trước bên trái O đang mặc để lấy chìa khóa thì làm rơi gói ma túy Đ đưa xuống đất gần chỗ O đang đứng khoảng 20 cm. Lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ và kiểm tra bên trong gói giấy có 01 túi nilon màu trắng, mép viền màu đỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng (mẫu số 01) và 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ bên trong chứa 03 túi nilon màu trắng nhỏ mép viền xanh đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 02) nghi là ma túy. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 xe đạp điện rồi đưa O cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra Trần Hải Đ khai nhận: Sáng ngày 03/6/2023, Đ có gặp Lê Thị O tại khu vực đầu ngõ B H, Lê C, Hải Phòng và có cùng O đi ăn sáng. Sau đó, Đ chở O về khu vực đầu ngõ B H, L, Hải Phòng rồi điều khiển xe về nhà, quá trình gặp O, Đ không đưa O ma túy, đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành cho Lê Thị O và Trần Hải Đ đối chất. Kết quả cả hai vẫn giữ nguyên lời khai.
Tại Kết luận giám định số 451/KL-KTHS(MT) ngày 06/6/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo (mẫu số 01) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,49 gam, là loại: Heroine; Tinh thể màu trắng thu giữ của bị cáo (mẫu số 02) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,49 gam, là loại: Ketamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết đường vân trên các vỏ bao gói đựng ma túy. Tại bản kết luận giám định số 48/KL-KTHS(ĐV) ngày 08/6/2023 của Phòng K CATP. Hải Phòng kết luận: “Phát hiện 01 dấu vết đường vân trên mẫu cần giám định. Dấu vết đường vân phát hiện được mờ nhòe, không rõ đặc điểm chung, ít các đặc điểm riêng, không đủ yếu tố giám định.”
Tại Bản cáo trạng số 155/CT-VKSLC ngày 11/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Thị O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với Trần Hải Đ ngoài lời khai của Lê Thị O về việc Đ là người đưa ma túy cho O thì chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ. Trần Hải Đ hiện đang là bị can trong vụ án khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L thụ lý, điều tra.
Đối với xe đạp điện màu đen quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Vũ Duy D, sinh năm: 1978, nơi ĐKHKTT: Tổ 5 Khu E phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, chỗ ở: Số G T, M, Ngô Q, Hải Phòng nhờ O mang đi sửa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe đạp điện trên cho Vũ Duy D.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị O khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Thị O mức án từ 48 đến 54 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 451MT/PC09 đựng vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định (là vật nhà nước cấm lưu hành); trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Nokia màu đen ; 01 thẻ căn cước công dân thu giữ của bị cáo (không liên quan đến việc phạm tội).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 03/6/2023 tại trước cửa nhà số A L, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng, Lê Thị O đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 3,49 gam Heroine và 2,49 gam Ketamine và bị bắt quả tang. Việc bị cáo cất giữ trái phép 02 chất ma túy (3,49 gam Heroine và 2,49 gam Ketamine): Theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine so với mức tối thiểu của Heroine được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 69,8%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 12,45%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 82,25%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng H và Ketamine so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là dưới 100% nên tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát kết luận bị cáo Lê Thị O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Nhân thân bị cáo đã một lần bị kết án 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” mặc dù đã được xóa án nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu; tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, theo mức mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 451MT/PC09) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
[10] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 thẻ Căn cước công dân thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Thị O 54 (Năm mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 03/6/2023 đến ngày 12/6/2023.
Căn cứ khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Lê Thị O để đảm bảo thi hành án. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 451MT/PC09).
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng không lên nguồn (không kiểm tra được chất lượng máy), 01 điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Nokia màu đen, vỏ ốp lưng màu ghi dạng bàn phím có số IMEI: 356933112445343 không lên nguồn (không kiểm tra được chất lượng máy) và 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Lê Thị O số [...] thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2023 giữa Cơ quan Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Thị O phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 155/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Oanh
