Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HSST

Ngày: 20-06-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Xuân Hương
  2. Ông Võ Văn Dương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2024, tại tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thiện T, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2003, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị Đ, có 02 em ruột, chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 01 năm 2024, “có mặt”.
  2. Lê Hoàng K, sinh ngày 22 tháng 08 năm 2003, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C sinh và bà Lê Ngọc C1; có 01 anh ruột, bản thân chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 01 năm 2024, “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Danh N1, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/01/2024, Nguyễn Thiện T điều khiển xe gắn máy biển số 68E1-551.34 đến phòng trọ của Lê Hoàng K tại ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh chơi. Tại đây T rủ K hùn tiền mua ma túy về sử dụng. K đưa cho T 200.000 đồng, T hùn thêm 100.000 đồng rồi điều khiển xe gắn máy biển số 68E1-551.34 đến khu vực đường K, xã P, huyện C gặp một người đàn ông hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy T mang về phòng trọ, lúc này K đang sử dụng điện thoại nên kêu T lên gác lấy bộ dụng cụ cho ma túy vào sử dụng trước. Trên gác lúc này còn có cậu của K tên Danh N1 đang nằm ngủ, T cho ma túy vào bộ dụng cụ xong rồi rủ D Nhí dậy cùng sử dụng thì Danh N1 đồng ý. Một lúc sau K lên gác sử dụng ma túy chung với T và Danh N1, cả ba người sử dụng ma túy đến đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã T Hội phát hiện bắt quả tang và thu giữ bộ D1 cụ bên trong ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu.

Tại bản kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu nâu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1441 gam loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong mang số vụ 276/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 điện thoại di động hiệu S, số imei 1: 352879321945603, số imei 2: 353339561945606; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei 1: 353970100831889, số imei 2: 353970101311204; 01 xe gắn máy biển số 68E1-551.34; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh); 01 quẹt gas.

Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKS.CC ngày 03 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê Hoàng K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp mức hình phạt chung bị cáo T phải chấp hành là từ 09 năm đến 10 năm tù.

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng K mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp mức hình phạt chung bị cáo T phải chấp hành là từ 09 năm đến 10 năm tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 276/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 68E1-551.34; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số imei 1: 352879321945603, số imei 2: 353339561945606, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei 1: 353970100831889, số imei 2: 353970101311204 cho các bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo T, khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng Danh N1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an xã T, huyện C xử phạt theo thẩm quyền.

Các bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê hoàng K1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thiện T và bị cáo Lê Hoàng K khai nhận: vào khoảng 12 giờ ngày 02 tháng 01 năm 2024, bị cáo T rủ bị cáo K hùn tiền mua ma túy về sử dụng. Bị cáo T hùn 100.000 đồng, bị cáo K hùn 200.000 đồng, sau đó bị cáo T mang 300.000 đồng đi mua ma túy rồi về phòng trọ của bị cáo K tại nhà trọ số A, Đường số A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố hồ Chí Minh sử dụng. Tại phòng trọ của K khi đó còn có đối tượng Danh N1 đến chơi nên các bị cáo đã cho Danh N1 cùng sử dụng chung ma túy, sử dụng ma túy đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày thì bị công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Qua giám định khối lượng ma túy thu giữ của các bị cáo, phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu nâu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1441 gam loại Methamphetamine.

Xét thấy, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và phù hợp với Kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Phòng K2 Công an thành phố H, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi tàng trữ 0,1441 gam loại Methamphetamine của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thiện T và bị cáo Lê Hoàng K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài hành vi trên, bị cáo T là người đi mua ma túy mang về cho bị cáo K và đối tượng Danh N1 cùng sử dụng, bị cáo K là người cung cấp bộ dụng cụ và địa điểm cho bị cáo T và đối tượng Danh N1 sử dụng ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều tệ nạn và tội phạm khác, song để thỏa mãn cơn nghiện, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo T là người chủ động rủ bị cáo K mua ma túy về sử dụng và rủ đối tượng Danh N1 cùng sử dụng chung ma túy với các bị cáo, bị cáo K là người cung cấp dụng cụ và địa điểm cho bị cáo T và đối tượng Danh N1 sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo đều rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo cùng một lúc phạm hai tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê Hoàng K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo lần đầu phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  1. [3] Về xử lý vật chứng:
    • Đối với 01 gói niêm phong mang số vụ 276/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh), 01 quẹt gas; xét thấy, đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành và các vật dụng mà các bị cáo dùng để sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 xe gắn máy biển số 68E1-551.34, số khung: RLSDL11ANM159623, số máy: CGA1559654 thu giữ của bị cáo T, hội đồng xét xử xét thấy: đây là tài sản của bị cáo T dùng làm phương tiện phạm tội nên quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei 1: 353970100831889, số imei 2: 353970101311204 thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số imei 1: 352879321945603, số imei 2: 353339561945606 thu giữ của bị cáo K; xét thấy, đây là tài sản cá nhân của các bị cáo, qua điều tra các bị cáo không dùng các tài sản sản này vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho các bị cáo.
  2. [4] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa điều tra làm rõ được lai lịch, nhân thân nên khi nào điều tra được sẽ xử lý sau.
  3. Đối với đối tượng Danh N1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị công an xã T, huyện C xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
  4. [5] Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê Hoàng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
  5. [6] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố:

    Bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê Hoàng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  2. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện T mức án 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện T mức án 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của hai tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” buộc bị cáo Nguyễn Thiện T phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 02 tháng 01 năm 2024.

  1. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K mức án 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K mức án 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của hai tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” buộc bị cáo Lê Hoàng K phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 02 tháng 01 năm 2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

  1. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 276/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh), 01 quẹt gas.
    • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 68E1-551.34, số khung: RLSDL11ANM159623, số máy: CGA1559654.
    • Trả lại bị cáo Nguyễn Thiện T 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei 1: 353970100831889, số imei 2: 353970101311204.
    • Trả lại bị cáo Lê Hoàng K 01 điện thoại di động hiệu S, số imei 1: 352879321945603, số imei 2: 353339561945606.

    (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 45/PNK ngày 28 tháng 02 năm 2024).

  1. Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê Hoàng K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: các bị cáo Nguyễn Thiện T và Lê Hoàng K có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HSST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 155/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger