|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2024/HS-ST Ngày 20 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến.
Ông Nguyễn Văn Vỵ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử (bổ sung) số: 113a/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Mai Thị Thu H (Tên gọi khác: Thanh T), sinh ngày: 14/02/1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm móng tay, chân; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H1 và bà Trần Thị H2; chồng: (Đã ly hôn); con: Có 03 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/12/2023, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (Bản án số 112/2023/HS-PT);
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Văn Đức H3 – Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (Địa chỉ: 3 H, phường A, thành phố H); có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Mai Văn H1, sinh năm 1956 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1960 (Là bố mẹ của bị cáo); đều trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị hại: Chị Đỗ Thị C (Tên gọi khác: N), sinh năm 1992; nơi cư trú: 0 Mang C, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Ngọc L; vắng mặt.
- + Anh Tống Phước Quang V; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 05/6/2023, Mai Thị Thu H điện thoại rủ anh Nguyễn Ngọc L đến phòng số 302 nơi H đang thuê ở thuộc dãy nhà D, khu đô thị T, phường A, thành phố H để chơi. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/6/2023 thì anh L cùng với chị Đỗ Thị C đến phòng 302 gặp H. Lúc này có anh Tống Phước Quang V là bạn trai của H cũng đang ở trong phòng. Sau đó, cả 04 người đi sang phòng 303 bên cạnh (phòng chưa có người thuê nên không khóa cửa) để ngồi chơi, cùng nhau sử dụng chất kích thích và nghe nhạc. Một lúc sau, chị C đi vệ sinh thì anh V đi theo gặp riêng để nói chuyện. H nghi ngờ giữa anh V và chị C có tình cảm riêng tư với nhau nên nảy sinh ghen tuông, H đi về phòng 302 lấy con heo bằng đất sành đựng tiền tiết kiệm đập vỡ, lấy tiền tiết kiệm để bỏ đi. Thấy vậy, anh V ngăn lại thì bị H lấy vỏ sành hình đa dạng cầm trên tay phải đánh trúng vào vùng ngực anh V làm rách da. Anh V tiếp tục ôm H lại, không cho H bỏ đi. Lúc này, chị C đang đứng trước cửa phòng 303 thì H cầm mảnh sành đánh một cái trúng vào vùng má trái của chị C gây thương tích. Sau đó chị C được đưa đến bệnh viện T1 cấp cứu khâu vết thương, còn H vứt mảnh sành rồi bỏ đi.
Ngày 12/10/2023, chị Đỗ Thị C có đơn trình báo và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Anh Tống Phước Quang V bị xây xước nhẹ nên từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố cũng như yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 318-23/KLTTCT-GĐPY ngày 17/7/2023, Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y của Sở Y kết luận thương tích của Đỗ Thị C như sau:
- Kết quả khám giám định: Vết thương phần mềm vùng má trái để lại sẹo trung bình: 6%.
- Kết luận: - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Đỗ Thị C tại thời điểm giám định là: 6%.
- Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương vùng má trái do vật tày có cạnh sắc tác động theo hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
* Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1792/KLGĐ ngày 19/12/2023, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T kết luận đối với Mai Thị Thu H:
- Tại thời điểm gây án (06/06/2023):
a. Về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.8)/ Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3).
b. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Tại thời điểm hiện tại:
a. Về học: Trạng thái loạn thần di chứng do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.7)/ Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3).
b. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
* Về vật chứng: Sau khi sự việc xảy ra, hai phòng 302 và 303 đã được nhân viên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải nên cơ quan Công an dù đã tiến hành kiểm tra, truy tìm nhưng không thu giữ được vật chứng trong vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Đỗ Thị C yêu cầu Mai Thị Thu H bồi thường tổng số tiền 100.000.000 đồng. Hiện H chưa chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKSTPH ngày 07/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố Mai Thị Thu H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm n, q, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Thị Thu H từ 04 tháng đến 05 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Mai Thị Thu H bồi thường về các chi phí hợp lý cho bị hại Đỗ Thị C.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo luật định.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Thống nhất với tội danh, điểm, khoản và điều luật mà Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố; đồng ý với quan điểm luận tội và việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Tính chất vụ việc giản đơn, bị cáo là người bị bệnh rối loạn nhân cách, cảm xúc không ổn định và bị bức xúc trong vấn đề tình cảm nên mới nhất thời phạm tội. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại trình bày thì sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã liên hệ với bị hại để trao đổi nhưng do không thống nhất được mức bồi thường nên chưa bồi thường được cho bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phạm vào tình tiết tăng nặng nào nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn để xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 03 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Mai Thị Thu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất với luận cứ bào chữa của luật sư, không bổ sung gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại là chị Đỗ Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mai Thị Thu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/6/2023, tại trước cửa phòng số 303, dãy nhà D, khu đô thị T, thuộc phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, do ghen tuông nên Mai Thị Thu H đã có hành vi dùng mảnh sành là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng má bên trái của chị Đỗ Thị C gây thương tích với tổn thương cơ thể qua giám định là 6%. Như vậy, bị cáo Mai Thị Thu H đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng số 105/CT-VKSTPH ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Mai Thị Thu H dù là người bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi nhưng vẫn có năng lực trách nhiệm hình sự, vẫn có khả năng nhận biết được tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm sức khoẻ của người khác đều sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tức giận, ghen tuông nam nữ, bị cáo đã không kiềm chế bản thân để rồi gây thương tích cho bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Do đó, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội đã gây ra.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang mang thai, là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi và không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm n, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt thì cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, thấy rằng: Mặc dù sau khi sự việc xảy ra, đại diện hợp pháp của bị cáo có thương lượng với bị hại về bồi thường thiệt hại nhưng hai bên không thống nhất được. Tuy nhiên, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo cũng không nộp số tiền bồi thường vào cơ quan thi hành án để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nên được xác định là chưa bồi thường. Do đó, không có căn cứ để áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế và người bào chữa cho bị cáo về áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn để xử phạt bị cáo, thấy rằng: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội này thì bản thân bị cáo đang bị điều tra, truy tố về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, lẽ ra bị cáo phải biết để kiềm chế bản thân nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội; điều này chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử xét không chấp nhận đề nghị này của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế và người bào chữa cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại là chị Đỗ Thị C yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí thuốc men, khám chữa trị vết thương: 5.000.000 đồng; chi phí đi lại: 3.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ: 6.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất (tiền công lao động) trong 03 tháng: 30.000.000 đồng; chi phí nuôi con nhỏ: 30.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần: 26.000.000 đồng; tổng cộng số tiền 100.000.000 đồng. Tại phiên toà hôm nay, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng nhưng bị cáo Mai Thị Thu H và đại diện hợp pháp của bị cáo không chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật, cụ thể:
- Về chi phí thuốc men, nằm viện khám chữa trị vết thương: Theo hồ sơ bệnh án, hóa đơn chứng từ điều trị thì chị C chỉ nằm viện trong một ngày 06/6/2023 với chi phí thuốc men điều trị là 1.501.102 đồng. Đây là chi phí hợp lý nên cần chấp nhận.
- Về chi phí đi lại: Theo lời trình bày của chị C thì sau khi ra viện, chị đã rất nhiều lần đến bệnh viện tái khám và cắt chỉ khâu nhưng không cung cấp được hóa đơn chứng từ nên không có cơ sở xác định chi phí này. Do đó không có căn cứ để chấp nhận.
- Về chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ: Theo quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án” và “Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày”. Theo đó, 01 ngày lương tối thiểu tại địa bàn thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ là 4.160.000 đồng : 26 ngày = 160.000 đồng/ ngày.
Chị Đỗ Thị C chỉ nằm viện điều trị 01 ngày nên chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ được chấp nhận là 160.000 đồng.
- Về thu nhập thực tế bị mất (tiền công lao động) trong 03 tháng: Theo lời trình bày của chị C, tại thời điểm bị thiệt hại, chị C làm công việc buôn bán hàng rong trên xe khách với thu nhập từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng. Ngoài ra, chị C còn làm thêm công việc nhân viên phục vụ quán Karaoke với mức thu thập từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng. Tuy nhiên, chị C không có căn cứ để chứng minh. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng, chị C thuộc trường hợp lao động tự do và không có mức lương ổn định nên cần căn cứ vào thu nhập trung bình tại địa phương đối với người lao động tự do là khoảng 350.000 đồng/ngày để xem xét giải quyết. Đồng thời, với thương tích đã xảy ra nhưng chị C yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian 03 tháng là không hợp lý. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận khoản bồi thường về thu nhập thực tế bị mất là 350.000 đồng/ngày x 30 ngày = 10.500.000 đồng.
- Về chi phí nuôi con nhỏ: Yêu cầu bồi thường này của chị C không liên quan đến thiệt hại do bị cáo gây ra nên không chấp nhận.
- Về tiền tổn thất tinh thần: Thiệt hại của chị C xảy ra ở vùng mặt, gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tổn thất về mặt tinh thần nên yêu cầu này của chị C là chính đáng. Tuy nhiên, mức bồi thường 26.000.000 đồng là quá cao nên cần chấp nhận mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần với 08 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tương ứng với số tiền 14.400.000 đồng là phù hợp.
Như vậy, cần buộc bị cáo Mai Thị Thu H phải bồi thường cho bị hại Đỗ Thị C tổng số tiền là 26.561.102 đồng.
[5] Về án phí: Bị cáo Mai Thị Thu H phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Thị Thu H (Tên gọi khác: Thanh T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm n, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 357; 468; 584; 585; 588; 590 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Thị Thu H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Mai Thị Thu H phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là chị Đỗ Thị C số tiền 26.561.102 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Buộc bị cáo Mai Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.328.055 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại đều có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |
Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 155/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CYGTT
