|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Hà Văn Hải. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông La Văn Liệu |
| Bà Trần Thị Hạnh. |
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị H. sinh năm 1995.
Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Bị đơn: Anh Lương Văn D, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 06/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày:
- Về tình cảm: Chị Hà Thị H và bị đơn anh Lương Văn D đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09 tháng 9 năm 2014 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh D thường xuyên xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị, không quan tâm chăm sóc vợ con. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà từ năm 2022 cho đến nay, vợ chồng chị không còn sống chung với nhau. Chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn anh Lương Văn D.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị H và anh D có 01 người con chung tên là Lương Hà sinh ngày 26/12/2014, ly hôn chị không yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung mà nhường quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho anh Lương Văn D.
- Về tài sản chung: Chị Hà Thị H và anh Lương Văn D không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị H và anh D không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lương Văn D trình bày: Về tình cảm hôn nhân và thời điểm kết hôn như chị H đã trình bày, sau khi kết hôn anh và chị H sống hạnh phúc với nhau bình thường, những lúc mâu thuẫn chỉ vì lý do đơn giản, sau những lần mâu thuẫn thì chị H bỏ về bên ngoại để sinh sống, không còn chăm sóc chồng con, hiện nay chị H yêu cầu ly hôn thấy rằng tình cảm vợ chồng chưa đến mức trầm trọng nên anh D không đồng ý ly hôn; Về con chung: Có 01 con chung tên là Lương Hà sinh ngày 26/12/2014, hiện nay con đang do anh D là người chăm sóc nuôi dưỡng, ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Anh D1 và chị H không có tài sản chung và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn với anh Lương Văn D; Về con chung: Giao con chung tên là Lương Hà sinh ngày 26/12/2014 cho anh D được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về tài sản và nợ chung: Chị Hà Thị H và anh Lương Văn D không có tài sản chung và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại Bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thông báo, triệu tập theo thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án; Bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt, niêm yết cho đương sự hợp lệ, nhiều lần. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét thấy chị Hà Thị H và anh Lương Văn D đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 9 năm 2014 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị H, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh D thường xuyên xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị, không quan tâm chăm sóc vợ con. Tại phiên tòa anh D vắng mặt, nhưng quá trình giải quyết vụ án anh D trình bày vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng. Qúa trình xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng chị H và anh D thường xuyên xẩy ra mâu thuân không thể hàn gắn được, anh D không quan tâm chăm sóc vợ con. Gia đình và chính quyền địa phương đã hòa giải cho vợ chồng anh chị nhiều lần nhưng không thành, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa, chị H đã về sống cùng bố mẹ đẻ ở Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An còn anh D vẫn đang sinh sống tại Bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Như vậy, chị H và anh D đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, giữa chị H và anh D mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị H được ly hôn với anh D.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị H và anh D có 01 người con chung tên là Lương Hà sinh ngày 26/12/2014. Quá trình giải quyết vụ án chị H không yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung mà nhường quyền nuôi con cho anh D được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Quá trình cung cấp lời khai và đơn xin xử vắng mặt của anh D là được trực tiếp chăm sóc con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Lương H1 trình bày nguyện vọng là được ở với anh D nếu bố mẹ ly hôn, qua xác minh hiện nay cháu Lương H1 đang học ổn định tại trường tiểu học xã M, huyện C. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy nguyện vọng của anh D là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con. Xem xét về điều kiện nuôi con thấy rằng anh D có đủ điều kiện để chăm sóc và giáo dục con, vì vậy để đảm bảo sự ổn định tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống của con nên việc giao con cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lương H1 trưởng thành là phù hợp, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
[4] Về tài sản chung và các khoản nợ: Do các đương sự không có tài sản chung, không có các khoản nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Hà Thị H được ly hôn với anh Lương Văn D.
-
2. Về con chung: Giao con chung Lương H1 sinh ngày 26/12/2014 cho anh Lương Văm D2 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Chị Hà Thị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Anh Lương Văn D cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- 3. Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000667 ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; chị Hà Thị H đã nộp đủ án phí.
- 4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Văn Hải |
Bản án số 155/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 155/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn hà Thị Hân - Bị đơn Lương Văn Dũng
