Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày: 17 – 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng, bà Lâm Thị Nga

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thống - Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hạo– Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 836/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và thông báo thay đổi lịch xét xử số 1898/TB-TA ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S

– sinh năm: 1955 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: Không xác định; Nơi cư trú hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc M và bà Trần Thị K (đều đã chết); Vợ, con: Không có.

- Tiền án:

  • Tại Bản án số 229/2017/HSST ngày 22/12/2017, Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2018.
  • Tại Bản án số 61/2019/HSST ngày 10/7/2019, Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/01/2021.
  • Tại Bản án số 49/2021/HSST ngày 22/10/2021, Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2023.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

  • + Tại Bản án số 04/HSST ngày 15/3/1977, Toà án nhân dân thị xã Phan Rang - T, tỉnh Thuận Hải xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản riêng của công dân".
  • + Tại Bản án số 26/HSST ngày 17/5/1979, Toà án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản riêng của công dân”.
  • + Tại Quyết định số 815/QĐ ngày 29/6/1981, Ủy ban nhân dân tỉnh T ra quyết định tập trung cải tạo 03 năm về hành vi xuất nhập cảnh trái phép.
  • + Tại Bản án số 18/HSST ngày 31/01/1986, Toà án nhân dân tỉnh Thuận Hải xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + Tại Bản án số 19/HSPT ngày 08/5/1987, Toà án nhân dân tỉnh Thuận Hải tổng hợp hình phạt, xử phạt 06 năm 01 tháng 10 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân” và “Trốn khỏi nơi giam".
  • + Tại Bản án số 74/HSST ngày 09/10/1990, Toà án nhân dân tỉnh Thuận Hải xử phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”
  • + Tại Bản án số 36/HSST ngày 21/4/1998, Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”
  • + Theo Bản án số 151/HSST ngày 26/11/2004, Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
  • + Tại Bản án số 228/HSPT ngày 09/5/2006, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại Bản án số 249/HSST ngày 26/9/2008, Toà án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại Bản án số 04/HSST ngày 29/4/2014, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 2005; địa chỉ: 4, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Trung Đ, bà Đoàn Thị L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc S là đối tượng không nghề nghiệp, sống lang thang, do không có tiền tiêu xài nên S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

Ngày 05/01/2024, S gặp và nói với D (chưa xác định được nhân thân lai lịch) là người bán vé số tại C ý định đi trộm cắp tài sản thì D đưa cho 01 bộ đoản phá xe mô tô gồm 02 thanh kim loại có 01 đầu dẹp và 01 đầu hình lục giác (kích thước mỗi thanh kim loại dài 06cm và 3,5cm); 01 dụng cụ mở bu-lông khoá xe môtô, hình chữ T bằng kim loại kích thước 11,5cm x 04cm. S cất giấu dụng cụ mở khoá xe trong túi quần phía trước bên phải rồi đi bộ trên đường T để tìm tài sản trộm cắp.

Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi ngang nhà trọ tại địa chỉ: 4 tổ I, khu phố E, phường T, Quận A, S thấy cửa nhà trọ mở và phát hiện xe mô tô biển số 81AE-000.09 của chị Nguyễn Thị Tuyết N dựng ở dãy nhà trọ, không khoá cổ, không có người trông coi nên S đi đến dùng bộ đoản đưa vào công tắc xe mô tô, vặn mở được khoá xe rồi đẩy lùi xe mô tô biển số 81AE-000.9 đến trước cửa cổng thì bị anh Trần Trung Đ để ý phát hiện đến hỏi S “xe này của ai”, S trả lời “xe này của tôi” và khi S định bỏ chạy thì bị anh Đ cùng người dân và chị Nguyễn Thị Tuyết N bắt giữ giao cho Công an phường T, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và giao cho Cơ quan điều tra thụ lý, giải quyết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án nêu trên (BL 39, 40).

- Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

  • + 02 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 01 đầu hình lục giác, kích thước mỗi thanh kim loại là 06cm và 3,5cm; 01 dụng cụ mở bu lông lục giác hình chữ “T” bằng kim loại, kích thước 11,5cm x 04cm.
  • + 01 USB bên trong ghi nhận hình ảnh Nguyễn Ngọc S thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 81AE-000.09 (lưu hồ sơ).
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Kwashaki, biển số 81AE-000.09, loại 50 C, số khung PKAH008527, số máy MB00018527 đứng tên anh Đỗ Minh V là chủ sở hữu. Năm 2021 chị N mua xe mô tô của anh V với giá 6.000.000 đồng nhưng chưa sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sở hữu là chị N chiếc xe nói trên.
  • * Tại kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A đã kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Kwashaki, biển số 81AE-000.09, loại 50 C, số khung PKAH008527, số máy MB00018527, trị giá 2.500.000 đồng.
  • * Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Công bố lời khai của bị hại, người làm chứng khai có nội dung như bị cáo đã khai nhận tại phiên toà.

  • * Tại Cáo trạng số 137/CT-VKSQ12 ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • * Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe môtô, biển số 81AE-000.90 nên không có yêu cầu bồi thường gì khác.

- Về xử lý vật chứng:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Kwashaki, biển số 81AE-000.09 của chị Nguyễn Thị Tuyết N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả lại xe môtô cho chị N.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 02 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 01 đầu hình lục giác, và 01 dụng cụ mở bu lông lục giác hình chữ “T” bằng kim loại.
  • + 01 USB ghi nhận sự việc đã được lưu trong hồ sơ.

Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, Quận A lập ngày 05/01/2024 và tang vật thu giữ; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 05/01/2024, Nguyễn Ngọc S đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Tuyết N 01 xe mô tô biển số 81AE-000.90 trị giá 2.500.000đồng tại địa chỉ 470/2/1, tổ I, khu phố E, phường T, Quận A thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tại Bản án số 49/2021/HSST ngày 22/10/2021, Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định bị cáo “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 04/11/2023 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù nên bị cáo chưa được xoá án tích. Lần phạm tội này bị cáo thực hiện do lỗi cố ý nên là “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và nhân thân đã nhiều lần bị Toà án đưa ra xét xử về nhiều tội nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc của khung hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N đã được nhận lại chiếc xe mô tô, biển số 81AE-000.90 và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Kwashaki, biển số 81AE-000.09, qua xác minh là tài sản do anh Đỗ Minh V đứng tên chủ sở hữu nhưng đã được anh Đỗ Minh V chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Tuyết N nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe môtô này cho chị N.
  • + Đối với: 02 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 01 đầu hình lục giác, kích thước mỗi thanh kim loại là 06 cm và 3,5 cm và 01 dụng cụ mở bu lông lục giác hình chữ “T” bằng kim loại kích thước 11,5cm x 04cm liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
  • + Đối với 01 USB bên trong ghi nhận sự việc đã được đính kèm trong hồ sơ.

[9] Về vấn đề khác: Đối với người tên D là đối tượng đưa cho bị cáo S các vật dụng dùng để thực hiện hành vi phạm tội do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

[10] Về án phí: Do bị cáo là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu huỷ: 02 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 01 đầu hình lục giác, kích thước mỗi thanh kim loại là 06cm và 3,5cm; 01 dụng cụ mở bu lông lục giác hình chữ “T” bằng kim loại kích thước 11,5cm x 04cm.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 110/QĐ-VKS ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - Phòng PC53 Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra Công an Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS Công an Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THA dân sự Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi cư trú của bị cáo (1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (2b);
  • - Bộ phận THA hình sự (5b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Thuỳ Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger