Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-PT

Ngày: 16-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Hoài

Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hùng T; do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo kháng cáo: Lê Hùng T, sinh năm 1989 tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Tổ D, thôn X, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê N và bà Nguyễn Thị Y; vợ: Đặng Thị Diễm K, sinh năm 1988; con: 01 con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Ông Bồ Văn D; sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ F, thôn X, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hùng T và ông Bồ Văn D có mối quan hệ anh em cột chèo với nhau. Do vườn của T và vườn của ông D ở gần nhau nên trong quá trình làm vườn giữa T và ông D đã xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 8 giờ 45 phút ngày 9/8/2023, T nói với anh trai là Lê Hùng P đến tìm ông D để nói chuyện nên ông P đến vườn của ông D tại tổ F, thôn X, xã X, thành phố Đ, Lâm Đồng gặp ông D. Tại đây, ông P và ông D đang đứng nói chuyện với nhau thì T điều khiển xe mô tô đi tới dựng xe mô tô ở lề đường rồi tiến đến chỗ ông D, lúc này T cầm một con dao bằng kim loại dài 25cm có mũi nhọn trên tay phải lao đến đâm một nhát trúng vào phần hông bên trái của ông D làm ông D té ngã xuống đất. Bị T đánh, ông D nhặt một cây gậy bằng tre ở dưới đất đánh lại về phía T. Thấy ông D bị T đánh nên con gái của ông D là Bồ Nguyễn Thị Hoài P1 lao đến ôm Thanh can ra kéo vào trong chòi thì T và P1 bị té ngã. Lúc này, con trai của ông D là Bồ Văn N1 nhặt một cây gậy bằng tre ở dưới đất đánh T thì có người can ngăn. Sau khi sự việc xảy ra ông D và Lê Hùng T được đưa đến Bệnh viện để điều trị.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 503/KLTTCT-PYLĐ ngày 25/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Sẹo nhỏ lưng trái kích thước 2 x 0,2cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bồ Văn D tại thời điểm giám định là: 1% (Một phần trăm), tổn thương do vật sắc gây nên.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 (một) thanh tre dài 1,04m, đường kính 2,5cm
  • - 01 (một) con dao bằng kim loại dài 25cm có mũi nhọn, phần cán dao có kích thước 10cm x 3cm, lưỡi dao kích thước 15cm x 2cm;
  • - 01 (một) vỏ dao bằng nhựa màu đen, có đai bằng da màu nâu đã được niêm phong trong hộp giấy, có chữ ký của Nguyễn An Thành H, Nguyễn Thị Thanh D1, Lương V, Huỳnh Công M, Trần Quốc H1 và được đóng dấu tròn của Công an xã X.

Cáo trạng số 128/CT-VKSÐL-LĐ ngày 16/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lê Hùng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HSST ngày 21/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Hùng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hùng T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

  • - Ngày 03/6/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Ngày 05/6/2024 bị hại kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại giữ nguyên kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Xét thấy tại phiên tòa bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố; việc rút đơn trên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy và đình chỉ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 09/8/2023, tại thôn X, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Lê Hùng T dùng một con dao dài 25cm đâm 01 nhát trúng vào phần hông bên trái của ông D, gây thương tích cho ông Bồ Văn D. Hậu quả ông D bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật 1% do vật sắc gây nên. Ngày 12/9/2023, ông Bồ Văn D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Lê Hùng T

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hùng T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và bị hại; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 là bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, do đó cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đồng thời giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Bồ Văn D có đơn kháng cáo xin rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo Lê Hùng T. Lý do là giữa bị cáo và bị hại đã thống nhất thỏa thuận bồi thường, không cần thiết phải xử lý hình sự đối với bị cáo T.

Các quyết định của Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tuy nhiên việc bị hại rút yêu cầu khởi tố là tình tiết mới đối với bị cáo. Như vậy, đối tượng bị xét xử là hành vi bị xem là tội phạm không còn, nên cần hủy Bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Lê Hùng T theo quy định tại khoản 2 Điều 155; Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về vật chứng: Tiếp tục tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) thanh tre dài 1,04m, đường kính 2,5cm;
  • - 01 (một) con dao bằng kim loại dài 25cm có mũi nhọn, phần cán dao có kích thước 10cm x 3cm, lưỡi dao kích thước 15cm x 2cm;
  • - 01 (một) vỏ dao bằng nhựa màu đen, có đai bằng da màu nâu đã được niêm phong trong hộp giấy, có chữ ký của Nguyễn An Thành H, Nguyễn Thị Thanh D1, Lương V, Huỳnh Công M, Trần Quốc H1 và được đóng dấu tròn của Công an xã X.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do hủy Bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Lê Hùng T, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong việc bồi thường nên không buộc bị cáo Lê Hùng T phải chịu trách nhiệm dân sự như Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên.

[7] Về án phí: Do hủy Bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án nên bị cáo Lê Hùng T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại Bồ Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Lê Hùng T.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Do hủy Bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Lê Hùng T, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong việc bồi thường nên không buộc bị cáo Lê Hùng T phải chịu trách nhiệm dân sự như Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (một) thanh tre dài 1,04m, đường kính 2,5cm;
    • - 01 (một) con dao bằng kim loại dài 25cm có mũi nhọn, phần cán dao có kích thước 10cm x 3cm, lưỡi dao kích thước 15cm x 2cm;
    • - 01 (một) vỏ dao bằng nhựa màu đen, có đai bằng da màu nâu đã được niêm phong trong hộp giấy, có chữ ký của Nguyễn An Thành H, Nguyễn Thị Thanh D1, Lương V, Huỳnh Công M, Trần Quốc H1 và được đóng dấu tròn của Công an xã X.

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/3/2024)

  4. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Hùng T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại Bồ Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I - TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (04);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND tp Đà Lạt (02);
  • - VKSND tp Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA tp Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan THAHS tp Đà Lạt (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Bị hại (01);
  • - Hồ sơ THAHS (03);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Mạnh Hùng.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 155/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hùng T "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger