|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc --------------------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Lin.
Ông Nguyễn Văn Ghên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trị - Kiểm sát viên;
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2023/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với:
- Các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Minh L (T), sinh ngày 07/01/1995.
- Họ và tên: Nguyễn Duy T2 (Tèo R), sinh ngày 01/01/1982.
- Họ và tên: Văn Liên C, sinh ngày 30/11/1978.
- Họ và tên: Trương Đình T4, sinh ngày 06/3/1975.
- Họ và tên: Bùi Thành C2, sinh ngày 16/12/1990.
- Họ và tên: Trần Văn G, sinh ngày 01/01/1956.
- Họ và tên: Nguyễn Văn H4, sinh ngày 10/02/1987.
- Họ và tên: Trần Thanh L6, sinh ngày 12/11/1994.
- Họ và tên: Huỳnh Văn P1, sinh ngày 01/01/1973.
- Họ và tên: Hồ Văn Q, sinh ngày 10/11/1989.
- Họ và tên: Lê Văn Q1, sinh ngày 24/3/1981.
- Họ và tên: Nguyễn Quốc T9 (Ka L9), sinh ngày 01/12/1994.
- Họ và tên: Lê Bảo T10, sinh ngày 01/01/1985.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1965 (sống) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1966 (sống); H và tên vợ: Trương Thị H1, sinh năm 1993; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Ngày 10/5/2018, Phạm Minh L bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, chấp hành xong bản án vào ngày 01/02/2019, đương nhiên đã được xóa án tích.
Ngày 21/3/2016, Phạm Minh L bị Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Long An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Đến ngày thực hiện tội phạm đã hết thời hiệu thi hành nên được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 21/12/2016, của Phạm Minh L bị Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Long An xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc”. Phạm Minh L đã chấp hành xong quyết định nên được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Chánh, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ả, sinh năm 1958 (sống) và bà Võ Thị R, sinh năm 1958 (sống); H và tên vợ: Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1981; Con: có 01 con sinh năm 2013; Tiền án: không;
Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 04/4/2022, Nguyễn Duy T2 bị Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Long An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 06/4/2022.
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Thanh H2, sinh năm 1955 (sống) và bà Văn Thị T3, sinh năm 1959 (chết); H và tên vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1981; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn C1, sinh năm 1932 (chết) và bà Hoa Thị H3, sinh năm 1934 (sống); H và tên vợ: Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm 1979; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn B, sinh năm 1961 (chết) và bà Võ Thị L3, sinh năm 1962 (sống); H và tên vợ: Lê Thị Như Ý, sinh năm 1995; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B1, sinh năm 1930 (chết) và bà Nguyễn Thị X1, sinh năm 1930 (chết); H và tên vợ: Nguyễn Thị C3, sinh năm 1960; Con: có 03 con, lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm 1985; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1942 (sống) và bà Phan Thị B2, sinh năm 1944 (sống); H và tên vợ: Nguyễn Thị Thúy L5, sinh năm 1986; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh M, sinh năm 1972 (sống) và bà Đặng Thị P, sinh năm 1975 (sống); H và tên vợ: Lê Thị Bảo N, sinh năm 1997; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T5, sinh năm 1941 (sống) và bà Phan Thị L7, sinh năm 1944 (sống); H và tên vợ: Lê Thị T6, sinh năm 1977; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn S, sinh năm 1966 (sống) và bà Trần Thị L8, sinh năm 1964 (sống); H và tên vợ: Nguyễn Thị T7, sinh năm 1992; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N1, sinh năm 1957 (chết) và bà Nguyễn Thị R1, sinh năm 1959 (sống); H và tên vợ: Nguyễn Thu T8, sinh năm 1981; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C4, sinh năm 1970 (sống) và bà Lê Thị Trúc H5, sinh năm 1973 (sống); Vợ, con: không; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C5, sinh năm 1952 (sống) và bà Trần Thị C6, sinh năm 1952 (chết); H và tên vợ: Thi Thị Thu K, sinh năm 1986; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
Biện pháp ngăn chặn: Ngày 02/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Đỗ Nhật T11, sinh ngày 20/8/1999.
- Ông Nguyễn Tấn T12, sinh ngày 20/10/1972.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 02 năm 2023, Nguyễn Duy T2 và Phạm Minh L gặp nhau tại quán cà phê không biển hiệu của L thuộc ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Tại đây, L và T2 bàn bạc, thống nhất cùng nhau tổ chức cho các con bạc đá gà thắng thua bằng tiền trái phép tại khu đất phía sau quán cà phê của L và lấy tiền hoa hồng chia nhau tiêu xài. Để thực hiện tội phạm, L chuẩn bị công cụ gồm: cân đồng hồ, cựa gà bằng kim loại, băng keo, tấm chắn gà bằng kim loại và lưới nhựa bao xung quanh khu vực đá gà để phục vụ cho việc tổ chức đá gà. Luận quy định hưởng 5% trên tổng số tiền cược của bên thắng. Vào các ngày thứ bảy và chủ nhật hàng tuần, L sử dụng sim số điện thoại di động 0354.479.xxx và T2 sử dụng sim số điện thoại di động 0338.038.xxx gọi rủ rê các con bạc có nhu cầu đến quán cà phê của L cùng tham gia đá gà thắng thua bằng tiền. L và T2 cùng nhau điện thoại hẹn chủ gà và luân phiên làm trọng tài khi có các con bạc tham gia.
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 26/02/2023, T2 gọi điện thoại rủ rê các con bạc đến quán cà phê của L để tham gia đá gà. Tân cân gà, cáp độ gà, L làm trọng tài cùng nhau tổ chức cho các con bạc tham gia đá trận gà giữa con gà màu lông xám, đỏ (gà xám), cân nặng 3,26kg của Trương Đình T4 đá với con gà màu lông đỏ, đen (gà điều), cân nặng 3,37kg của Văn Liên C, tỷ lệ 10 thắng 9 (thua hết số tiền cược hoặc thắng 90% số tiền cược), tiền cược trong sổ mỗi bên thắng thua nhau 16.000.000 đồng. Trần Thanh L6 băng cựa, thả gà của T4, Lê Bảo T10 băng cựa, thả gà của C.
Những người cùng góp tiền cùng tham gia cá cược phía bên gà của Trương Đình T4 gồm có: Thoại 5.000.000 đồng; Lê Văn Q1 5.000.000 đồng; Trần Thanh L6 3.000.000 đồng; Hồ Văn Q 2.000.000 đồng; Một người nam không rõ họ tên, địa chỉ 1.000.000 đồng.
Những người cùng góp tiền tham gia cá cược phía bên gà của Văn L4 C gồm có: Cường 7.000.000 đồng; Nguyễn Văn H4 2.000.000 đồng; Bùi Thành C2 2.000.000 đồng; Nguyễn Quốc T9 1.000.000 đồng; Lê Bảo T10 1.000.000 đồng; Huỳnh Văn P1 1.000.000 đồng; Trần Văn G 1.000.000 đồng; Một người nam không rõ họ tên, địa chỉ 1.000.000 đồng.
Khi hai con gà đang đá với nhau chưa có kết quả thắng thua thì bị lực lượng Công an huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tạm giữ người và vật chứng để điều tra xử lý.
Quá trình điều tra còn xác định: Trước khi bị bắt quả tang ngày 26/02/2023, Phạm Minh L cùng với Nguyễn Duy T2 còn tổ chức cho các con bạc đá gà thắng thua bằng tiền trót lọt được 04 ngày, một ngày tổ chức từ 02 đến 03 trận gà, số tiền cược trong mỗi trận từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, mỗi ngày thu lợi khoảng 1.200.000 đồng và chia nhau mỗi người 600.000 đồng, tổng cộng L và T2 thu lợi trong 04 ngày, mỗi người 2.400.000 đồng, riêng ngày bị bắt chưa thu lợi.
Tại bản cáo trạng số 170/CT-VKSĐH ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Tuyên bố các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58, Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền bị cáo Phạm Minh L (T) từ 90.000.000đồng đến 100.000.000đồng.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58, Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) từ 80.000.000đồng đến 90.000.000đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4 mỗi bị cáo từ 50.000.000đồng đến 60.000.000đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền bị cáo Lê Văn Q1 từ 40.000.000đồng đến 50.000.000đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền các bị cáo Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10, mỗi bị cáo từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng.
Các biện pháp tư pháp: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về tang vật: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với: 01 cân đồng hồ loại 5kg; 02 cặp cựa gà bằng kim loại; 12 cuộn băng keo chưa sử dụng; 01 tấm vĩ bằng kim loại hình vuông mỗi cạnh dài 60cm dùng để chắn gà; 01 tấm lưới bằng nhựa (loại lưới lan) kích thước ngang 02m, dài 20m là công cụ các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu hồng, sim số 0363452757 (thu giữ của Trương Đình T4); 01 điện thoại di động hiệu S1, sim số 0976303901 (thu giữ của Văn Liên C); 01 điện thoại di động hiệu Sam sung F1 màu hồng, sim số 0974631489 (thu giữ của Trần Thanh L6); 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11S màu xanh, sim số 0338038015 (thu giữ của Nguyễn Duy T2) các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc thực hiện tội phạm nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
- - Đối với số tiền: 5.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà) của Trương Đình T4; số tiền 5.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà 2.600.000đồng, 2.400.000đồng giao nộp trong quá trình điều tra) của Lê Văn Q1; số tiền 7.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà 1.900.000đồng, giao nộp trong quá trình điều tra 5.100.000đồng) của Văn Liên C; số tiền 1.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà 200.000đồng, giao nộp trong quá trình điều tra 800.000đồng) của Trần Văn G; số tiền 2.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà) của Bùi Thành C2; số tiền 1.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Huỳnh Văn P1; số tiền 1.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Lê Bảo T10; số tiền 2.000.000đồng (giao nộp trong quá trình đều tra) của Nguyễn Văn H4; số tiền 1.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Nguyễn Quốc T9; số tiền 3.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Trần Thanh L6; số tiền 2.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Hồ Văn Q; số tiền 2.400.000đồng của Phạm Minh L (giao nộp trong quá trình điều tra); 2.400.000đồng của Nguyễn Duy T2 (giao nộp trong quá trình điều tra). Tổng cộng: 34.800.000đồng là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc và số tiền thu lợi bất chính nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền: 3.700.000đồng của Trương Đình T4; 23.900.000đồng của Bùi Thành C2, tổng cộng 27.600.000đồng, được xác định số tiền này không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho các bị cáo.
Đối với hai người nam có hành vi tham gia cá cược trận gà bị bắt quả tang, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án và tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đánh giá về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị các không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:
[2.1]. Hành vi khách quan của các bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 đã thực hiện:
Khoảng tháng 02 năm 2023, Nguyễn Duy T2, Phạm Minh L cùng nhau bàn bạc, thống nhất cùng nhau tổ chức cho các con bạc đá gà thắng thua bằng tiền trái phép tại khu đất phía sau quán cà phê của L và lấy tiền hoa hồng chia nhau tiêu xài. Để thực hiện tội phạm. Thực hiện hành vi, L chuẩn bị công cụ gồm: cân đồng hồ, cựa gà bằng kim loại, băng keo, tấm chắn gà bằng kim loại và lưới nhựa bao xung quanh khu vực đá gà để phục vụ cho việc tổ chức đá gà. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/02/2023, T2 gọi điện thoại rủ rê các con bạc đến quán cà phê của L để tham gia đá gà. Tân cân gà, cáp độ gà, L làm trọng tài cùng nhau tổ chức cho các con bạc tham gia đá trận gà giữa con gà Trương Đình T4 đá với con gà của Văn Liên C, tiền cược trong sổ mỗi bên thắng thua nhau là 16.000.000 đồng, khi hai con gà đang đá với nhau chưa có kết quả thắng thua thì bị lực lượng Công an huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tạm giữ người và vật chứng để điều tra xử lý.
[2.2]. Nhận định của Hội đồng xét xử:
Xét lời khai nhận của các bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 trước tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an huyện Đ lập vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 26/02/2023; phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R) tổ chức cho nhiều người đánh bạc với qui mô lớn trên 10 người, số tiền tổ chức đánh bạc trong cùng một lần cá cược (02 bên tham gia đánh bạc) trên 20.000.000đồng, bị cáo L, bị cáo T2 mỗi bị cáo thu lợi thu 2.400.000đồng (đã giao nộp). Hành vi của các bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo R) đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Đối với các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền giữa con gà của Trương Đình T4 và con gà của Văn L4 C cụ thể như sau: Trương Đình T4 5.000.000 đồng; Lê Văn Q1 5.000.000 đồng; Trần Thanh L6 3.000.000 đồng; Hồ Văn Q 2.000.000 đồng; Văn Liên C 7.000.000 đồng; Nguyễn Văn H4 2.000.000 đồng; Bùi Thành C2 2.000.000 đồng; Nguyễn Quốc T9 1.000.000 đồng; Lê Bảo T10 1.000.000 đồng; Huỳnh Văn P1 1.000.000 đồng; Trần Văn G 1.000.000 đồng. Khi hai con gà đang đá với nhau chưa có kết quả thắng thua thì bị lực lượng Công an huyện Đ, tỉnh Long An phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 tham gia cá cược với số tiền thắng thua mỗi bên là 16.000.000đồng, hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tai khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 gây ra là nguy hiểm, là tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm bằng pháp luật Hình sự.
[3]. Xét đây là vụ án đồng phạm, nên cần phân tích vai trò của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra.
Bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo Rà) cùng đứng ra tổ chức, luân phiên nhau làm trọng tài cho các con bạc tham gia nên cần có mức hình phạt tương đương nhau.
[4]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
[4.1]. Về tình tiết định khung:
Hành vi của bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác của Điều 322 nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Hành vi của các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác của Điều 321 nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
[4.2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo qui định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R) trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị can Văn Liên C, Trương Đình T4, Bùi Thành C2, Trần Văn G, Nguyễn Văn H4, Trần Thanh L6, Huỳnh Văn P1, Hồ Văn Q, Lê Văn Q1, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10, có cùng tình tiết thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; bị can L, T2 đầu thú, tự nguyện giao nộp lại tiền thu lợi bất chính; bị can T10, H4, T9, L6, Q đầu thú, tự nguyện giao nộp lại tiền sử dụng vào việc đánh bạc, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị can C, T4, C2, G, P1, Q1 tự nguyện giao nộp lại tiền sử dụng vào việc đánh bạc, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt.
Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Từ đó, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.
[5]. Về tang vật: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Về tang vật: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với: 01 cân đồng hồ loại 5kg; 02 cặp cựa gà bằng kim loại; 12 cuộn băng keo chưa sử dụng; 01 tấm vĩ bằng kim loại hình vuông cạnh dài 60cm dùng để chắn gà; 01 tấm lưới bằng nhựa (loại lưới lan) kích thước ngang 02m, dài 20m là công cụ các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu hồng, sim số 0363452757 (thu giữ của Trương Đình T4); 01 điện thoại di động hiệu S1, sim số 0976303901 (thu giữ của Văn Liên C); 01 điện thoại di động hiệu Sam sung F1 màu hồng, sim số 0974631489 (thu giữ của Trần Thanh L6); 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11S màu xanh, sim số 0338038015 (thu giữ của Nguyễn Duy T2) các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
- - Đối với số tiền: 5.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà) của Trương Đình T4; số tiền 5.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà 2.600.000đồng, 2.400.000đồng giao nộp trong quá trình điều tra) của Lê Văn Q1; số tiền 7.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà 1.900.000đồng, giao nộp trong quá trình điều tra 5.100.000đồng) của Văn Liên C; số tiền 1.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà 200.000đồng, giao nộp trong quá trình điều tra 800.000đồng) của Trần Văn G; số tiền 2.000.000đồng (thu giữ tại nơi đá gà) của Bùi Thành C2; số tiền 1.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Huỳnh Văn P1; số tiền 1.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Lê Bảo T10; số tiền 2.000.000đồng (giao nộp trong quá trình đều tra) của Nguyễn Văn H4; số tiền 1.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Nguyễn Quốc T9; số tiền 3.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Trần Thanh L6; số tiền 2.000.000đồng (giao nộp trong quá trình điều tra) của Hồ Văn Q; số tiền 2.400.000đồng của Phạm Minh L (giao nộp trong quá trình điều tra); 2.400.000đồng của Nguyễn Duy T2 (giao nộp trong quá trình điều tra). Tổng cộng: 34.800.000đồng là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc và số tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền: 3.700.000đồng của Trương Đình T4; 23.900.000đồng của Bùi Thành C2, tổng cộng 27.600.000đồng, được xác định số tiền này không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với hai người nam có hành vi tham gia cá cược trận gà bị bắt quả tang, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án và tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau.
[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/YBTVQH14 ngày 30/12/2016quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh L (T), Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Tuyên bố các bị cáo Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Phạm Minh L (T) số tiền là 90.000.000đồng (chín mươi triệu đồng).
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Duy T2 (Tèo R2) số tiền là 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Văn Liên C số tiền là 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Trương Đình T4 số tiền là 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Lê Văn Q1 số tiền là 40.000.000đồng (bốn mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Bùi Thành C2 số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn H4 số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Trần Thanh L10 số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Huỳnh Văn P1 số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Hồ Văn Q số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Lê Bảo T10 số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Quốc T9 (K) số tiền là 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Trần Văn G số tiền là 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
- Về tang vật: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sử dụng vào việc đánh bạc : 01 cân đồng hồ loại 5kg; 02 cặp cựa gà bằng kim loại; 12 cuộn băng keo chưa sử dụng; 01 tấm vĩ bằng kim loại hình vuông mỗi cạnh dài 60cm dùng để chắn gà; 01 tấm lưới bằng nhựa (loại lưới lan) kích thước ngang 02m, dài 20m; sim số 0363452757; sim số 0976303901; sim số 0974631489; sim số 0338038015.
- - Tịch thu bán thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng sử dụng vào việc làm phương tiện thực hiện tội phạm gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu hồng (của Trương Đình T4); 01 điện thoại di động hiệu S1 (của Văn Liên C); 01 điện thoại di động hiệu Sam sung F1 màu hồng (của Trần Thanh L6); 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11S màu xanh (của Nguyễn Duy T2);
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tổng số tiền 34.800.000đồng (sử dụng vào việc đánh bạc và tiền thu lợi bất chính) trong đó: 5.000.000đồng của Trương Đình T4; 5.000.000đồng của Lê Văn Q1; 7.000.000đồng của Văn Liên C; 1.000.000đồng của Trần Văn G; 2.000.000đồng của Bùi Thành C2; 1.000.000đồng của Huỳnh Văn P1; 1.000.000đồng của Lê Bảo T10; 2.000.000đồng của Nguyễn Văn H4; 1.000.000đồng của Nguyễn Quốc T9; 3.000.000đồng của Trần Thanh L6; 2.000.000đồng của Hồ Văn Q; 2.400.000đồng của Phạm Minh L; 2.400.000đồng của Nguyễn Duy T2.
- - Trả lại cho bị cáo Trương Đình T4 số tiền 3.700.000đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng);
- - Trả lại cho bị cáo Bùi Thành C2 số tiền 23.900.000đồng (Hai mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng).
- (Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2023; số tiền 62.400.000đồng đang tạm giữ theo biên lại thu số 0001104, ngày 26/10/2023).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Buộc các bị cáo Phạm Minh L (Tửng), Nguyễn Duy T2 (Tèo R), Văn Liên C, Trương Đình T4, Lê Văn Q1, Trần Thanh L6, Hồ Văn Q, Nguyễn Văn H4, Bùi Thành C2, Huỳnh Văn P1, Trần Văn G, Nguyễn Quốc T9, Lê Bảo T10 mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Thành viên Hội đồng xét xử La Văn V – Nguyễn Chí Lin |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Linh D1 |
Bản án số 168/2023/HSST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về vụ án hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 168/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh Luận và ĐP phạm tội "Đánh bạc" và "Tổ chức đánh bạc"
