Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 155/2024/HSST

Ngày: 14 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

2/ Ông Đặng Tấn Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 143/2024/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phùng Văn Minh T; sinh ngày: 24/02/2002, tại: Trà Vinh; trú tại: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùng Văn T1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2023 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Trịnh Tuấn H1; sinh ngày: 08/10/2000, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Đ (đã chết) và bà Dương Thị Đ1, sinh năm 1973; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2023 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1990; trú tại: 8 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
  2. Ông Châu Hoàng K, sinh ngày 15/5/2001; trú tại: 6 đường B, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Văn Minh TTrịnh Tuấn H1 quen biết nhau vào năm 2022, do không có tiền tiêu xài nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/8/2023, H1 gọi điện thoại rủ T đi cướp giật tài sản, T đồng ý và hẹn gặp tại địa chỉ 998/38 N, Ấp E, xã X, huyện H. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H1 đi xe ôm công nghệ đến địa chỉ trên gặp T rồi T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 64T1-2091 chở H1 đi qua nhiều tuyến đường tìm tài sản để cướp giật. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, T thấy anh Châu Hoàng K dừng xe bên lề đường số 289 C, Phường A, Quận A, sử dụng điện thoại nên rủ H1 cướp giật. H1 đồng ý nên T điều khiển xe áp sát bên trái anh K để H1 dùng tay phải cướp giật điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, dung lượng 128 Gb trên tay anh K rồi cả hai tẩu thoát về hướng vòng xoay ngã 6 D. Sau đó, H1 đưa điện thoại vừa cướp giật được cho T cất giấu vào túi áo khoác.

Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, cả hai đang đi trên đường T hướng về đường Â, T thấy chị Nguyễn Thị Ngọc H2 ngồi sau xe ôm công nghệ “Be” lưu thông cùng chiều đang cầm điện thoại di động trên tay phải nên T nói với H1 “có điện thoại kìa”. Sau đó H1 kêu T điều khiển xe chạy lên để H1 cướp giật nên T điều khiển xe chạy từ phía sau áp sát bên trái của chị H2, H1 dùng tay phải giật điện thoại di động hiệu Oppo A5S màu đen, dung lượng 32 GB của chị H2 tại trước số F T, phường T, quận T thì xe máy của T vướng vào tay lái của xe máy do tài xế “Be” điều khiển đang chở chị H2 nên TH1 té ngã xuống đường. H1 nghe có tiếng tri hô nên vướt bỏ điện thoại di động vừa cướp giật được của chị H2 rồi bỏ chạy bộ đến trước số A đường T, Phường A, quận T thì bị người dân bắt giữ, T bỏ chạy bộ đến trước số G T, phường T, quận T thì bị người dân bắt giữ. Sau đó, H1T được đưa về trụ sở Công an phường T làm việc.

Kết luận định giá tài sản số 288/KL-HĐĐGTS ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự Quận A, thời điểm định giá ngày 22/8/2023, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, hàng chính hãng, phiên bản quốc tế, dung lượng 128GB (tài sản đã qua sử dụng, còn hoạt động, không phụ kiện, thu hồi được), trị giá 4.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 1996/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, thời điểm định giá ngày 22/8/2023, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A5S, dung lượng 32GB, màu đen, số Imei 1: 868683046294652, Imei 2: 868683046294645 trị giá 1.000.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A5S, dung lượng 32GB, màu đen, số Imei 1: 868683046294652, Imei 2: 868683046294645.

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, dung lượng 128GB, màu đen, số I: 354832095844997.

Thu giữ của Phùng Văn Minh T:

- 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng Gold, số I: 353291075106946, điện thoại T sử dụng nhận cuộc gọi từ Trịnh Tuấn H1 rủ đi cướp giật tài sản.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 64T1-2091, số khung RLCS5C6H0FY159298, số máy 6C6H159311, phương tiện T sử dụng chở Trịnh Tuấn H1 đi cướp giật tài sản.

- 01 áo khoác màu đen, dài tay; 01 áo thun ba lỗ, màu trắng; 01 cái quần Jean dài, màu xanh, trang phục T mặc khi cướp giật tài sản.

Thu giữ của Trịnh Tuấn H1:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S màu đen, số Imei 1: 350246953200586/01; số Imei 2: 353931243200580/01, điện thoại H1 sử dụng gọi rủ Phùng Văn Minh T cướp giật tài sản.

- 01 áo khoác sọc caro màu đen, 01 cái áo sọc caro xám - đen dài tay; 01 cái quần Jean ngắn, màu xanh, trang phục H1 mặc khi cướp giật tài sản.

Tại bản cáo trạng số 160/CT-VKSQ.TP ngày 27 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố các bị cáo Trịnh Tuấn H1, Phùng Văn Minh T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm về tội danh và điều khoản mà cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phùng Văn Minh T từ 04 năm đến 05 năm tù.

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trịnh Tuấn H1 từ 04 năm đến 05 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 22/8/2023 tại trước nhà số B đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phùng Văn Minh T điều khiển xe gắn máy Yamaha Sirius, biển số 64T1 – 2091 chở Trịnh Tuấn H1 áp sát bên trái của anh Châu Hoàng K để H1 dùng tay phải cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen rồi tẩu thoát và H1 đưa điện thoại vừa cướp giật được cho T cất giấu vào túi áo khoát.

Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, hai bị cáo đi trên đường T hướng về đường Â, khi đến trước nhà số F đường T, phường T, quận T thì T phát hiện chị Nguyễn Thị Ngọc H2 ngồi sau xe ôm công nghệ lưu thông cùng chiều đang cầm điện thoại di động trên tay sử dụng nên T điều khiển xe chạy từ phía sau áp sát bên trái của chị H2 để H1 dùng tay phải giật điện thoại di động hiệu OPPO A5S nhưng do xe máy của T vướng vào tay lái của xe ôm công nghệ nên TH1 té ngã xuống đường, H1 vứt điện thoại vừa cướp giật được cùng T chạy bộ tẩu thoát thì bị người dân bắt giữ giao Cơ quan công an xử lý.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phùng Văn Minh T, Trịnh Tuấn H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại, dùng xe gắn máy là phương tiện nguy hiểm nhanh chóng giật tài sản của bị hại nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố các bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh, ngay trên đường phố có đông người qua lại, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

[4] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng các bị cáo nhất thời phạm tội nên mang tính giản đơn, bị cáo H1 là người rủ bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên là người thực hành. Bị cáo T là người điều khiển xe để thực hiện hành vi phạm tội và là người phát hiện ra tài sản, nên giữ vai trò là người giúp sức tích cực. Do đó, vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo hai lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xem xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Ngọc H2 và anh Châu Hoàng K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A5S, dung lượng 32GB, màu đen, số Imei 1: 868683046294652, Imei 2: 868683046294645, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc H2 nên Hội đồng xét xử không xử lý.

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, dung lượng 128GB, màu đen, số I: 354832095844997, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Châu Hoàng K nên Hội đồng xét xử không xử lý.

- 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng Gold, số Imei: 353291075106946, thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S màu đen, số Imei 1: 350246953200586/01; số Imei 2: 353931243200580/01, thu giữ của bị cáo H1. Đây là điện thoại các bị cáo liên lạc để rủ nhau thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- 01 áo khoát màu đen, dài tay; 01 áo thun ba lỗ, màu trắng; 01 quần Jean dài, màu xanh là trang phục T mặc khi cướp giật tài sản và 01 áo khoác sọc caro màu đen, 01 áo sọc caro xám - đen dài tay; 01 quần Jean ngắn, màu xanh là trang phục H1 mặc khi cướp giật tài sản, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 64T1-2091, số khung RLCS5C6H0FY159298, số máy 5C6H159311 là phương tiện T sử dụng chở Trịnh Tuấn H1 đi cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe máy có số khung RLCS5C6H0FY159298, số máy 6C6H159311 được cấp biển số 68N1-130.83, do bà Đoàn Thị P, địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, bà Đoàn Thị P hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ.

Qua xác minh biển số 64T1-2091 cấp cho xe máy hiệu Wave RS, số máy HC12E0538805, số khung RLHHC12298Y512934 do anh Đoàn Ngọc T2, địa chỉ: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, anh Đoàn Ngọc T2 trình bày đã bán xe máy trên vào cuối năm 2019 với giá 9.000.000 đồng cho anh Phạm Thành L, chưa làm thủ tục sang tên, anh Phạm Thành L hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Phùng Văn M T khai mua xe trên của một người bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch) với giá 6.700.000 đồng, xe có biển số 68N1-130.83 nhưng T đã bị rớt mất biển số nên T mua biển số 64T1-2091 của người bán ve chai dạo (không rõ lai lịch) gắn vào xe để đi.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người đang quản lý, sử dụng hợp pháp xe gắn máy nói trên, giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm người quản lý sử dụng hợp pháp, quá hạn nói trên mà không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Riêng biển số 64T1-2091, qua giám định không xác định được là biển số thật hay giả nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phùng Văn Minh T phạm tội "Cướp giật tài sản".

Xử phạt bị cáo Phùng Văn Minh T 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2023.

[2] Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Tuấn H1 phạm tội "Cướp giật tài sản".

Xử phạt bị cáo Trịnh Tuấn H1 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2023.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại đi động hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng Gold, số Imei: 353291075106946 và 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A04S màu đen, số Imei 1: 350246953200586/01; số Imei 2: 353931243200580/01.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoát màu đen, dài tay; 01 (một) áo thun ba lỗ, màu trắng; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh; 01 (một) áo khoác sọc caro màu đen; 01 (một) áo sọc caro xám - đen dài tay; 01 (một) quần Jean ngắn, màu xanh và 01 (một) biển số 64T1-2091.
  • Giao Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm người quản lý sử dụng hợp pháp xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, số khung RLCS5C6H0FY159298, số máy 5C6H159311, quá hạn mà không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 270/PNK ngày 19/3/2024 của Công an quận T).

[5] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

[7] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKS Q.Tân Phú;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - THA quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu: hồ sơ.

Lê Viết Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 155/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger