|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2023/HS-PT Ngày: 14 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Văn Chung |
Các Thẩm phán: |
1. Ông Nguyễn Duy Hữu 2. Ông Trương Công Bình |
Thư ký phiên toà: |
Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: |
Bà Phan Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên. |
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 158/2023/TLPT-HS, ngày 04/7/2023 đối với bị cáo Lê Văn C và đồng phạm, về tội “Đánh bạc”, do có kháng của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HSST ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: LÊ VĂN C; sinh năm 1966, tại tỉnh Thanh Hoá. Nơi cư trú: Thôn H, xã Ea P, huyện Ea K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không đi học; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn C, sinh năm 1938 và bà Lê Thị L (đã chết); Có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1979 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 409/2013/HSPT ngày 05/11/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Lê Văn C 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đến ngày 02/7/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và thực hiện xong các quyết định khác của Bản án. Tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 96/2018/HSPT ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Lê Văn C 05 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và thực hiện xong các quyết định khác của bản án ngày 19/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: HOÀNG TRỌNG Đ, sinh năm 1977, tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn H, xã Ea P, huyện Ea K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Hoàng Trọng T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1945; Có vợ là Mạc Thị H, sinh năm 1978 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 409/2013/HSPT ngày 05/11/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Hoàng Trọng Đ 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đến ngày 26/4/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và thực hiện xong các quyết định khác của Bản án. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ-XPVPHC ngày 04/11/2021 của Công an huyện Ea Kar, xử phạt: Hoàng Trọng Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) về hành vi tàng trữ lâm sản trái phép (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: LÊ VĂN C, sinh năm 1976, tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn N, xã Ea P, huyện Ea K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Đào Thị T, sinh năm 1954; Có vợ là Đào Thị H, sinh năm 1976 và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 162/2016/HSPT ngày 10/5/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Lê Văn C 05 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và thực hiện xong các quyết định khác của bản án ngày 21/01/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Lê Đức L và Lưu Thế A không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 05/02/2023, Lê Văn C, Lê Đức L, Lưu Thế A, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C đến quán cà phê võng của ông Nguyễn Hữu T thuộc thôn N, xã Ea P, huyện Ea K để uống nước. Khi đến nơi thì gia đình ông T không có ai ở nhà nên 05 người ngồi ở bộ bàn ghế gỗ đặt trước sân kho nhà ông Nguyễn Hữu T (bên cạnh quán cà phê) nói chuyện. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì C, L, A, Đ và C rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền, sau khi tất cả đồng ý, C đi đến tiệm tạp hóa mua 01 bộ dụng cụ xóc bầu cua (gồm: 01 tô bằng kim loại màu trắng; 01 đĩa bằng kim loại màu trắng; 03 hạt bầu cua hình lập phương, sáu mặt in hình sáu biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà và nai; 01 bàn bầu cua bằng giấy mặt trước in hình sáu biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà và nai) mang về quán cà phê. Sau đó, C đặt bộ dụng cụ xóc bầu cua lên trên bàn gỗ, rồi cùng L, A, Đ và C ngồi xung quanh bàn gỗ để đánh bạc bằng hình thức xóc bầu cua, mỗi ván mỗi người chơi có thể đặt tiền cược từ 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) đến 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Quá trình đánh bạc, C là người trực tiếp cầm cái xóc bầu cua cho L, A, Đ và C đặt tiền cược vào sáu biểu tượng trên bàn bầu cua bằng giấy. Khi đánh bạc, C mang theo 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng), L mang theo 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), A mang theo 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), Đ mang theo 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng), C mang theo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc đánh bạc. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, khi Lê Văn C, Lê Đức L, Lưu Thế A, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C đang đánh bạc thì bị Công an huyện Ea Kar phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền là 21.850.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) cùng các dụng cụ, tang vật liên quan đến hành vi đánh bạc.
Trong số tiền thu trên chiếu bạc, số tiền thu tại vị trí của Lê Văn C là 6.530.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) nghĩa là C thắng 330.000 đồng (Ba trăm ba mươi nghìn đồng); số tiền thu tại vị trí của Lê Đức L là 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng) nghĩa là L thua số tiền 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng); số tiền thu tại vị trí của Lưu Thế A là 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) nghĩa là A thắng 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng); số tiền thu tại vị trí của Hoàng Trọng Đ là 4.040.000 đồng (Bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) nghĩa là Đ thắng số tiền 3.090.000 đồng (Ba triệu không trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền thu tại vị trí của Lê Văn C là 380.000 đồng (Ba trăm tám mươi nghìn đồng) nghĩa là C thắng số tiền 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ: Thu trên chiếu bạc số tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 21.850.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- 01 (một) bộ dụng cụ xóc bầu cua, gồm: 01 tô bằng kim loại màu trắng, đường kính 20cm; 01 đĩa bằng kim loại màu trắng, đường kính 21cm; 03 hạt bầu cua hình lập phương, kích thước mặt 2,5cm, sáu mặt in hình sáu biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà và nai; 01 bàn bầu cua bằng giấy, kích thước (43x65)cm, mặt trước in hình sáu biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà và nai.
- 01 bàn bằng gỗ (không rõ chủng loại) kích thước (50x113x48)cm; 03 ghế bằng gỗ (không rõ chủng loại), kích thước bằng nhau (57x58x99)cm và 01 ghế bằng gỗ (không rõ chủng loại), kích thước (57x165x99)cm. Quá trình điều tra vụ án, xác định bộ bàn ghế gỗ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Hữu T và ông T không biết các bị cáo đánh bạc nên Công an huyện Ea Kar đã trả lại số tài sản này cho ông Nguyễn Hữu T.
Đối với khu vực trước sân kho nhà ông Nguyễn Hữu T nơi đặt bộ bàn ghế gỗ mà các bị cáo sử dụng đánh bạc, đây là tài sản của gia đình ông Nguyễn Hữu T, do ông T không biết việc các bị cáo sử dụng đánh bạc nên Công an huyện Ea Kar không tiến hành định giá để xử lý là phù hợp.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HSST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã quyết định
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Lê Văn C: 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023.
+ Xử phạt: Hoàng Trọng Đ: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Lê Văn C: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác; Tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2023 các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, đúng nội dung bản Cáo trạng và Bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đảm bảo đúng người, đúng tội. Về mức hình phạt mà Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 năm tù; Hoàng Trọng Đ 08 tháng tù là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với bị cáo Lê Văn C mức hình phạt tù 08 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng, tuy nhiên sau khi xét xử bị cáo cung cấp thêm các tình tiết: Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất và gia đình bị cáo có công với cách mạng đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355 và điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C và Hoàng Trọng Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về mức hình phạt; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C, xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng khoan hồng và tự cải tạo ở ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 05/02/2023, các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ, Lê Văn C và 02 bị cáo khác rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bầu cua được thua bằng tiền thì bị Công an huyện Ea Kar phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 21.850.000 đồng, trong đó bị cáo C tham gia đánh bạc với số tiền 6.200.000 đồng, bị cáo Đ đánh bạc với số tiền 950.000 đồng và bị cáo Cửđánh bạc với số tiền 200.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Xét mức hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo Lê Văn C và 08 tháng tù đối với các bị cáo Hoàng Trọng Đ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Bởi lẽ: Bị cáo C là người chuẩn bị công cụ và trực tiếp cầm cái để các bị cáo khác tham gia đánh bạc và số tiền đánh bạc của bị cáo Lê Văn C và Hoàng Trọng Đ là nhiều hơn so với các bị cáo khác. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về nhiều tội trong đó có tội “Đánh bạc” (đã được xoá án tích) nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, nên cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, đối với bị cáo Hoàng Trọng Đ tham gia đánh bạc số tiền ít (950.000 đồng), bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính duy nhất trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận, nên xét cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[2.2]. Đối với kháng cáo của bị cáo Lê Văn C: Mức hình phạt 08 tháng tù mà Toà án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Bởi lẽ, số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc ít nhất (200.000 đồng) tính chất thắng thua không lớn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là gia đình có công với cách mạng. Xét thấy bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Vì vậy, cần chấp nhận kháng của bị cáo, sửa bản án về phần hình phạt cho bị cáo, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[3] Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự phúc thâm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C - Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HSST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar về mức hình phạt.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HSST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar về mức hình phạt.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn C, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Lê Văn C: 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023.
+ Xử phạt: Hoàng Trọng Đ: 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 52 và Điều 36 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Lê Văn C: 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giữ 09 ngày (cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) tương ứng với 27 ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Lê Văn C Cho Uỷ ban nhân dân xã Ea P, huyện Ea K, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Lê Văn C tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với các bị cáo Lê Văn C.
[3]. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chung |
Bản án số 155/2023/HS-PT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về đánh bạc
- Số bản án: 155/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chiều ngày 05/02/2023, Lê Văn C, Lê Đức L, Lưu Thế A, Hoàng Trọng Đ và Lê Văn C đến quán cà phê võng của ông Nguyễn Hữu T thuộc thôn N, xã Ea P, huyện Ea K để uống nước. Khi đến nơi thì gia đình ông T không có ai ở nhà nên 05 người ngồi ở bộ bàn ghế gỗ đặt trước sân kho nhà ông Nguyễn Hữu T (bên cạnh quán cà phê) nói chuyện. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì C, L, A, Đ và C rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền, sau khi tất cả đồng ý, C đi đến tiệm tạp hóa mua 01 bộ dụng cụ xóc bầu cua (gồm: 01 tô bằng kim loại màu trắng; 01 đĩa bằng kim loại màu trắng; 03 hạt bầu cua hình lập phương, sáu mặt in hình sáu biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà và nai; 01 bàn bầu cua bằng giấy mặt trước in hình sáu biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà và nai) mang về quán cà phê. Sau đó, C đặt bộ dụng cụ xóc bầu cua lên trên bàn gỗ, rồi cùng L, A, Đ và C ngồi xung quanh bàn gỗ để đánh bạc bằng hình thức xóc bầu cua, mỗi ván mỗi người chơi có thể đặt tiền cược từ 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) đến 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). .............
