Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-PT

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đặng Văn Chum.
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Huy Toàn.
Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 11 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 40/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đoàn Văn A. Do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Đỗ Thị Ngọc Á, bà Nguyễn Thị Thùy T và bị đơn dân sự là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6, người đại diện theo pháp luật là ông Đặng Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo bị kháng cáo: Đoàn Văn A, sinh năm 1983 tại tỉnh Hậu Giang; thường trú: ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 3/12; con ông Đoàn Văn C, sinh năm 1963 và con bà Hà Thị T1, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1975 (không đăng ký kết hôn); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt giam ngày 07/9/2023, có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại có kháng cáo:

  1. Bà Đỗ Thị Ngọc Á, sinh năm 1965; thường trú: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (là mẹ ruột); là đại diện cho bị hại Danh Thành D, Danh Thành N, có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1988; thường trú: tổ dân phố Y, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; là đại diện hợp pháp cho bị hại Danh Thành N, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thùy T: Bà Nguyễn Thị Thanh T2 là Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

Bị đơn dân sự có kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6; địa chỉ: B B, phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần T3, có mặt.

Trong vụ án còn có 01 người đại diện hợp pháp cho các bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đoàn Văn A có giấy phép hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 04/3/2021 có giá trị đến ngày 04/3/2026. Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 10/5/2022, Anh điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51 kéo theo sơmi rơ móoc biển số 51R-066.4 lưu thông trên Quốc Lộ A theo hướng đường từ ngã ba C - phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương về hướng phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi A điều khiển xe ô tô đầu kéo vào giao lộ giữa đường GS1 với Quốc lộ A, lúc này tốc độ xe chạy khoảng 77km/h, Anh không giảm tốc độ, không quan sát nên đã để xe va chạm với xe mô tô biển số 79Z1 - 607.32 do ông Danh Thành N điều khiển chở phía sau là ông Danh Thành D lưu thông trên đường Quốc Lộ 1K theo hướng từ phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh về hướng ngã ba C, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ngược chiều với xe của Anh). Ông N điều khiển xe mô tô khi đến giao lộ ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ A và đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, chuyển hướng rẽ trái để qua giao lộ ngã ba vào đường GS1.

Hậu quả: Ông Danh Thành N chết tại hiện trường, ông Danh Thành D bị thương được đưa đi cấp cứu và chết tại bệnh viện Q - thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 10/5/2022, thể hiện:

Đoạn đường xảy ra tai nạn là giao lộ ngã ba đường Q giao với đường GS1, đường được rải thảm nhựa cứng, mặt đường bằng phẳng, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn, có đèn tín hiệu giao thông ba màu xanh, vàng, đỏ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông chỉ còn đèn tín hiệu màu vàng hoạt động. Đường Quốc lộ 1K có dải phân cách bê tông cố định, được chia 02 chiều đường xe lưu thông, trên mỗi chiều có vạch sơn chia thành 03 làn đường xe lưu thông, đường có biển báo phân 03 làn đường xe lưu thông. Đường GS1 có vạch sơn chia hai chiều xe lưu thông, trên mỗi chiều có vạch sơn chia thành 02 làn đường xe lưu thông.

3

Đường Quốc lộ 1K, chiều đường đi từ ngã ba C vào giao lộ ngã ba có tín hiệu đèn giao thông ba màu xanh, vàng, đỏ tại nút giao lộ, có 03 làn đường lưu thông, làn ô tô con rộng 4,00 m, làn đường hỗn hợp rộng 3,40 m, làn mô tô rộng 2,00 m. Chiều đường đi từ phường L vào giao lộ ngã ba có tín hiệu đèn giao thông ba màu, xanh, vàng và đỏ, tại nút giao lộ, có 03 làn đường lưu thông, làn ô tô rộng 4,00 m, làn đường hỗn hợp rộng 3,40 m, làn đường xe mô tô – xe ba bánh – xe thô sơ rộng 2,00 m.

Đường GS1, chiều đường đi từ vòng xoay A vào giao lộ ngã ba có đèn tín hiệu giao thông ba màu, xanh, vàng và đỏ tại nút giao lộ. Chiều bên trái từ vòng xoay A vào giao lộ có 02 làn đường xe chạy, làn đường xe ô tô rộng 5,60 m, làn đường xe mô tô rộng 5,70 m. Chiều đường bên phải từ vòng xoay A vào giao lộ có 02 làn xe, làn đường xe ô tô rộng 5,80 m, làn đường xe mô tô rộng 5,70 m.

Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, dấu vết:

  1. Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51, kéo theo sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41, sau tai nạn xe dừng trên làn đường xe mô tô trên đường Q, phần đầu xe nằm trên bồn trồng cây xanh (21) và hướng về phường L, có chiều từ trái sang phải theo hướng đi từ ngã ba C về phường L, đuôi xe hướng về ngã ba cây L1 và có chiều từ phải sang trái theo hướng đi từ ngã ba C về phường L, trục trước bên trái cách biển báo phân chia làn đường (18) 1,30m và ra cách lề chuẩn 3,50m, trục giữa bên trái ra cách lề chuẩn 2,40m, trục sau bên trái cách trục trước bánh xe mô tô biển số 79Z1-607.32 (2) là 6,20m và vào cách lề chuẩn 2,40m, trục sau bên trái cách tâm kính bể xe mô tô (16) 3,00m.
  2. Xe mô tô biển số 79Z1-607.32, sau tai nạn xe ngã đổ sang phải, đầu xe quay về hướng ngã ba C, đuôi xe quay về hướng phường L, trục bánh xe trước cách trục sau xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51 kéo sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 (1) 6,20m và vào cách lề chuẩn 8,50m, trục bánh xe trước cách đầu vết cày trục bánh xe trước xe mô tô (7) 9,40m, trục bánh xe sau cách trụ đèn tín hiệu giao thông (22a) 19,20m và vào cách lề chuẩn là 8,50m, trục bánh xe sau cách đầu dải phân cách bê tông (19a) là 23,40m.
  3. Vết phanh (thắng) bánh xe sau bên trái sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41, do hàng bánh xe sau bên trái sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 để lại liên tục trên mặt đường sau tai nạn dài 40,2 m, rộng 0,50m, có hướng từ ngã ba C về phường L, có chiều từ trái sang phải theo hướng đi từ ngã ba C về phường L, đầu vết phanh cách đầu vết phanh bánh xe sau bên phải sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 (4) 2,20m và vào cách lề chuẩn 4,60m, đầu vết phanh cách trục sau bên trái sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 là 40,20m.
  4. Vết phanh bánh xe sau bên phải sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41, do hai bánh xe sau bên phải sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 để lại liên tục trên mặt đường sau tai nạn dài 40,20 m, rộng 0,50 m có hướng từ ngã ba C về phường L, có chiều từ trái sang phải theo chiều đi từ ngã ba C về phường L, đầu vết phanh cách trụ đèn tín hiệu giao thông (22b) 47,60 m và vào cách lề chuẩn 2,80 m.

4

  1. Vết phanh bánh xe sau bên phải xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51, do hai bánh xe sau bên phải của xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51, để lại liên tục trên mặt đường sau tai nạn, dài 20,40 m, rộng 0,50m, có hướng từ ngã ba C về phường L, có chiều từ trái sang phải theo chiều đi từ ngã ba C về phường L, đầu vết thắng cách lề chuẩn 0,00m.
  2. Vết cày gọng kính chiếu hậu bên phải xe mô tô, do bánh xe ô tô đè lên gọng kính chiếu hậu bên phải xe mô tô biển số 79Z1-607.32 (10) kéo lê trên mặt đường và để lại dấu vết trên mặt đường sau tai nạn, dài 9,40m, có hướng từ ngã ba C về phường L, có chiều từ trái sang phải theo chiều đi từ ngã ba C về phường L, đầu vết cày cách đầu vết cày trục bánh trước xe mô tô (7) 1,00m và cách đầu vết chà người (9) 1,30m, cách trục giữa bên phải sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 là 9,40m và vào cách lề chuẩn 1,20m.
  3. Vết cày trục bánh xe trước xe mô tô biển số 79Z1-607.32, do trục bánh trước xe mô tô biển số 79Z1-607.32 (2) để lại trên mặt đường sau tai nạn dài 9,40m, có hướng từ ngã ba C về phường L, có chiều từ phải sang trái theo chiều đi từ ngã ba C về phường L, đầu vết cày cách đầu vết cày gọng kính chiếu hậu bên phải xe mô tô (6) 1,00m và vào cách lề chuẩn 2,00m.
  4. Vết cày, do bánh xe ô tô đè lên mảnh vỡ của vành bánh xe trước xe mô tô biển số 79Z1-607.32 (11) kéo lê trên mặt đường và để lại dấu vết trên mặt đường sau tai nạn, dài 4,80m, có hướng từ ngã ba C về phường L, đầu vết cày vào cách lề chuẩn 2,40 m.
  5. Vết chà người, do nạn nhân (12) bị kéo lê trên mặt đường để lại sau tai nạn dài 7,30m, có chiều hướng từ ngã ba C về phường L, đầu của vết chà người cách đầu vết cày gọng kính chiếu hậu xe bên phải mô tô (6) 1,30 m và vào cách lề chuẩn 2,20 m.
  6. Gọng kính chiếu hậu bên phải xe mô tô để lại trên mặt đường sau tai nạn, nằm phía dưới trục giữa bên phải của sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41, cách đầu vết cày gọng kính chiếu hậu bên phải xe mô tô (6) 9,40m và ra cách lề chuẩn 1,10m.
  7. Mâm bánh xe trước của xe mô tô biển số 79Z1-607.372 bị vỡ để lại tại hiện trường sau tai nạn cách lề chuẩn 0,50m.
  8. Nạn nhân, nam giới, chết tại hiện trường sau tai nạn, nằm ngửa trên mặt đường dài 1,70m, đầu quay về hướng ngã ba C, chân quay về hướng phường L, đầu cách tâm vết máu (15) là 0,40m và vào cách lề chuẩn 2,40m, chân trái vào cách lề chuẩn 2,50m, chân phải vào cách lề chuẩn 2,30m.
  9. Mũ bảo hiểm để lại trên mặt đường sau tai nạn, cách trục giữa bên trái sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 là 0,60m và vào cách lề chuẩn 1,80 m.
  10. Đôi dép để lại hiện trường sau tai nạn, nằm phía dưới gầm sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 và cách lề chuẩn 0,00m.
  11. Máu nạn nhân, trên mặt đường để lại vết máu nạn nhân sau tai nạn, kích thước 0,50m x 0,30m, tâm máu cách lề chuẩn 2,20m.

5

  1. Kính chiếu hậu xe mô tô bị bể nằm rải rác trên mặt đường sau tai nạn, kích thước 1,30m x 0,80m, tâm kính bể cách trục sau bên trái của sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41 là 3,00m và vào cách lề chuẩn 5,20m.
  2. Thẻ logo dán áo rơi vãi trên mặt đường sau tai nạn.
  3. Biển báo phân chia làn đường được dựng đứng trên vỉa hè bên phải đường Quốc Lộ 1K, theo chiều đi từ ngã ba C về phường L có kích thước 2,5 x 1,30 m cách lề chuẩn 0,90m.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 646/PC09-GĐPY ngày 14/5/2022 của Phòng K Công An tỉnh B, kết luận về nguyên nhân chết của bị hại D Thành Nhân:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định: Bên ngoài nhiều vết sây sát da, tụ máu; vỡ xương sọ có nhiều mảnh xương rời; rách dập, tụ máu màng cứng; dập não, tụ máu màng mềm vùng trán, thái dương, đại não phải trái.
  2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương, vỡ hộp sọ, tụ máu nội sọ, dập não.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 646A/PC09-GĐPY ngày 14/5/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận về nguyên nhân chết của bị hại D Thành Danh:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định: Bên ngoài nhiều vết sây sát, rách da, tụ máu; gãy nát xương hàm trên và gãy 06 răng hàm trên; gãy đôi xương hàm dưới và 01 răng cửa dưới; sụn, xương cánh mũi đứt lìa, tụ máu; đứt các mạch máu quanh miệng; lòng khí quản đầy chặt máu, thức ăn, bọt hồng; dập rải rác hai phổi; tụ máu ruột, mạc treo ruột.
  2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương, choáng đa thương (gãy vỡ nhiều xương, dập tụ máu hai phổi...), choáng mất máu không hồi phục suy hô hấp.

Kết luận giám định số 3320/KL-KTHS ngày 29/6/2022 của Phân Viện Khọc Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an, kết luận về nồng độ cồn, chất ma túy có trong máu tử thi Danh Thành N: Tìm thấy thành phần Ethanol, nồng độ Ethanol là 216,50 mg/100ml máu, không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định số 3319/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phân Viện Khọc Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an, kết luận về nồng độ cồn, chất ma túy có trong máu tử thi Danh Thành D, như sau: Tìm thấy thành phần E, nồng độ Ethanol là 60,96 mg/100ml máu; không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định số 33/SCKT-KTHS ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận về an toàn kỹ thuật của xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 51R-066.41: Tại thời điểm giám định, xác định: Hệ thống lái: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

Kết luận giám định số 267/KL-KTHS(CH) ngày 07/7/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận về dấu vết cơ học, như sau:

6

  1. Dấu vết va chạm giữa các phương tiện: Dấu vết trượt xước sơn đen, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) ở mặt ngoài mặt nạ trước và trượt xước, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở bên phải chắn bùn bánh trước, mặt ngoài phuộc trước bên phải, vỡ khuyết vành bánh trước xe mô tô biển số 79Z1 - 607.32 có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu xanh, bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở mặt ngoài bên trái đầu xe và trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng sơn, cao su) ở mặt ngoài khung cản bên trái đầu xe ô tô đầu kéo biển số 51C - 602.51, kéo theo rơ moóc biển số 51R-066.41, có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải.
  2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa các phương tiện: Phần phía trước bên phải đầu xe mô tô biển số 79Z1-607.32 va chạm vào phần bên trái xe ô tô đầu kéo biển số 51C-602.51, kéo theo rơ moóc biển số 51R-066.41 theo hướng từ trái qua phải, làm xe mô tô ngã đổ va chạm với mặt đường, tạo ra dấu trên hai phương tiện.
  3. Vị trí va chạm đầu tiên giữa các phương tiện chiếu xuống mặt đường là: Khu vực phía trước đầu vết cày số 7 trên sơ đồ hiện trường.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 65/BBĐG-HĐĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận tổng giá trị các bộ phận bị thiệt hại hư hỏng của xe mô tô biển số 79Z1-607.32 là 8.023.000 đồng.

Ngày 10/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An thành phố D đã đưa Đoàn Văn A đến Trung tâm Y tế thành phố D tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn và chất ma túy. Kết quả: Nồng độ cồn trong máu là 10.8 mmol/l, không có sử dụng chất ma túy (nồng độ cồn trong máu của Đoàn Văn A là 10.8 mmol/l (trị số bình thường < 10.9 mmol/l), đây là nồng độ cồn có trong máu của một người bình thường không có sử dụng rượu, bia, nồng độ cồn này được sản sinh trong quá trình cơ thể chuyển hóa thức ăn).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đoàn Văn A và Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 (gọi tắt Công ty T6) đã bồi thường số tiền 80.000.000 đồng tiền chi phí mai táng cho 02 bị hại Danh T và Danh Thành D (phía đại diện bị hại Danh Thành N đã nhận 80.000.000 đồng)

Bà Nguyễn Thị Thùy T (đại diện hợp pháp cho Danh Thành N) yêu cầu Công ty T6 phải bồi thường: Chi phí mai táng theo phong tục số tiền 62.291.000 đồng (tiền xây mộ 29.000.000 đồng; cấp phần mộ 4.800.000 đồng; cơm nước 19.600.000 đồng; nước 4.500.000 đồng; bánh 1.961.000 đồng; hoa 700.000 đồng; dịch vụ tang lễ 1.730.000 đồng). Xe mô tô biển số 79Z1 - 607.32 bị hư hỏng, tiền lưu kho, tiền vận chuyển 10.673.000 đồng; tiền chi phí cấp dưỡng cho con anh N là cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018, cho đến khi đủ 18 tuổi số tiền 607.880.000 đồng (167 tháng x 3.640.000 đồng); tiền tổn thất tinh thần cho bà T và con số tiền 182.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thường 862.844.000 đồng

7

Ông Danh T4, bà Đỗ Thị Ngọc Á (đại diện hợp pháp cho Danh Thành D) yêu cầu Công ty T6 bồi thường như sau: Chi phí mai táng 113.810.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng.

Cáo trạng số 436/CT – VKS ngày 22 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đoàn Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự).

Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khoản 11 Điều 8, khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018, 2019.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn A 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 07/9/2023.

2. Các biện pháp tư pháp.

2.1 Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, 585 và 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 bồi thường cho.

  • + Bà Nguyễn Thị Thùy T đại diện hợp pháp cho bị hại D Thành Nhân số tiền 166.903.000 đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu, chín trăm lẻ ba nghìn đồng).
  • + Bà Đỗ Thị Ngọc Á và ông Danh T4 đại diện hợp pháp cho bị hại D Thành Danh số tiền 234.310.000 đồng (hai trăm ba mươi bốn triệu, ba trăm mười nghìn đồng).

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 hàng tháng phải cấp dưỡng nuôi cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018 (con của bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Danh Thành N; bà T làm đại diện) mỗi tháng 3.640.000 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) từ thời điểm tháng 6/2022 cho đến khi cháu D1 đủ 18 tuổi.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/02/2024, bà Đỗ Thị Ngọc Á là người đại diện hợp pháp cho các bị hại có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm về bồi thường dân sự.

Ngày 06/02/2024, bà Nguyễn Thị Thùy T là người đại diện hợp pháp cho các bị hại có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm về phần cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 21/2/2023, bị đơn dân sự là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 do ông Đặng Văn H là người đại diện theo pháp luật, kháng cáoyêu cầu hủy Bản án xơ thẩm để xem xét lại nội dung vụ án, xác định trách nhiệm dân sự.

8

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về tội danh và hình phạt: Hành vi của Đoàn Văn A điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số biển số 51C-602.51 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 51R-066.4 khi vào giao lộ, Anh không giảm tốc mà vẫn lưu thông với vận tốc độ 77km/h nên đã gây ra tai nạn làm chết ông Danh Thành N và ông Danh Thành D; hành vi của Anh đã vi phạm Điều 12 luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải. Ngoài ra, xét lỗi trong vụ án này có một phần lỗi của ông N, bởi khi chuyển hướng vào giao lộ, ông N điều khiển xe mô tô chở ông D không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe ô tô của bị cáo A, bản thân ông N có nồng độ cồn đến 216,50 mg/100ml máu; hành vi của ông N đã vi phạm Điều 8, Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đoàn Văn A về tội danh, điều khoản và hình phạt nêu trên là có căn cứ và phù hợp.

Xét kháng cáo của bà Đỗ Thị Ngọc Á là đại diện hợp pháp bị hại N và D (mẹ ruột N và D), yêu cầu Công ty T6 bồi thường thêm số tiền 73.807.000đ, gồm: tiền xây mộ 50.000.000 đồng, tiền xây mái vòm 9.497.000 đồng và tiền dịch vụ tang lễ là 14.310.000 đồng; đồng thời yêu cầu cấp dưỡng cho cha, mẹ bị hại (ông Danh T4 và bà Đỗ Thị Ngọc Á) số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 người đến khi chết. Xét thấy: số tiền tang lễ 14.310.000, cấp sơ thẩm đã tuyên buộc trong bản án sơ thẩm, riêng các yêu cầu về tiền xây mộ là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng). Riêng về phần yêu cầu cấp dưỡng cho cha mẹ bị hại 5.000.000 đồng/tháng/02 người thì căn cứ Điều 71 Luật Hôn nhân gia đình thì ngoài bị hại D, N; ông Danh T4 và bà Đỗ Thị Ngọc Á còn 02 người con là Danh Thành T5, sinh năm 1990 và Danh Thành S, sinh năm 1992 nên phần yêu cầu cấp dưỡng nêu trên là không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thùy T là vợ của bị hại Danh Thành N, yêu cầu Công ty T6 bồi thường 01 lần số tiền 607.880.000 đồng (167 tháng x 3.640.000 đồng) là tiền cấp dưỡng đối với con ruột của bị hại N là cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018 đến năm 18 tuổi là không có cơ sở xem xét. Bởi lẽ, theo Bản án sơ thẩm đã buộc Công ty T6 có trách nhiệm cấp dưỡng cháu D1 mỗi tháng 3.640.000 đồng đến năm 18 tuổi là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Việc buộc Công ty T6 bồi thường một lần chỉ được xem xét khi giữa công ty và bà T có thỏa thuận và Công ty T6 đồng ý.

- Đối với kháng cáo của ông Đặng Văn H là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 (đại diện bị đơn dân sự): Ông H cho rằng bị cáo Đoàn Văn A bị Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tạm giữ Giấy phép lái xe số [...] hạng FC do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2018 do có

9

tin báo về vi phạm giao thông đường bộ (thời điểm này bị cáo A không bị tước giấy phép lái xe). Sau đó bị cáo A đã kê khai là mất giấy phép lái xe trên và được Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp lại giấy phép lái xe vào ngày 04/3/2021 và có giá giá trị đến ngày 04/3/2026. Ngày 10/5/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo của Công ty T6 thì xảy ra tai nạn gây hậu 02 người chết. Hành vi nêu trên của bị cáo A tuy là gian dối với Công ty T6 trong việc đi kê khai và được cấp lại giấy phép lái xe ô tô đầu kéo nhưng hành vi đó không ảnh hưởng đến việc bị cáo có được phép hay không được phép lái xe ô tô đầu kéo vì bản chất bị cáo vẫn chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào tước giấy phép lái xe ô tô đầu kéo, việc Công an thị xã P tạm giữ giấy phép lái xe ô tô đầu kéo của bị cáo, đó chỉ là hành vi hành chính trong việc tạm giữ giấy tờ, không có ý nghĩa trong việc bị cáo bị tước giấy phép lái xe ô tô. Do vậy, căn cứ Điều 601 của Bộ luật Dân sự và Điều 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án tối cao “Về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, thì Công ty T6 phải có nghĩa vụ bồi thường theo như bản án sơ thẩm đã tuyên. Kháng cáo của đại diện bị đơn dân sự về việc hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.

Riêng về Giấy phép lái xe ô tô mới hạng FC số [...] được Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp lại ngày 04/3/2021, có giá trị đến ngày 04/3/2026. Qua xác minh, bị cáo A đã gian dối khi làm thủ tục xin cấp lại nên cần tịch thu, chuyển Sở Giao thông vận tại Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại Danh Thành D và Danh Thành N là bà Đỗ Thị Ngọc Á; bà Nguyễn Thị Thùy T và đại diện bị đơn dân sự là ông Đặng Văn H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An về phần trách nhiệm sự mà Công ty T6 có nghĩa vụ phải bồi thường cho bà Á và bà T; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm về phần xử lý vật chứng theo hướng tuyên tịch thu giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] được Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp lại ngày 04/3/2021, có giá trị đến ngày 04/3/2026, chuyển Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo thẩm quyền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Đỗ Thị Ngọc Á trình bày: con tôi mất các chi phí đều có biên lai xác nhận và tôi đã nộp lại cho Tòa án vì vậy kính mong Hội đồng xét xử xem xét, còn các vấn đề khác tôi không có ý kiến gì.

Người đại diện cho bị đơn dân sự là ông Ông Trần T3 trình bày: quan điểm của Viện kiểm sát tôi không có ý kiến, tuy nhiên Viện kiểm sát đề nghị thu hồi

10

bằng lái thứ 2 của bị cáo A vậy bằng lái xe của bị cáo có là do hành vi gian dối vì công ty không biết bằng lái của bị cáo đã bị tịch thu và lần thứ 2 bị cáo trở về lái xe cho công ty thì bị cáo nói đã lấy bằng lái xe ra, vì vậy mong Hội đồng xét xử xem xét vấn đề này và công ty chỉ hỗ trợ cho bị cáo một phần bồi thường dân sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày: đối với ý kiến của ông T3 cho rằng chi phí cao là không đúng vì các chứng từ tôi đều có nộp đầy đủ trong hồ sơ, còn đối với vấn đề bằng lái xe của bị cáo thì trước đây và hiện tại Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lời bằng văn bản là bằng lái này hoàn toàn hợp pháp và việc này cũng không ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết vụ án. Liên quan đến vấn đề cấp dưỡng cho con của bị hại thì nếu áp dụng theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2024 quy định là mức lương tối thiểu vùng 3 là 3.860.000 đồng là không phù hợp do mức lương tối thiểu này sẽ thay đổi theo hàng năm nên sẽ không còn phù hợp cho về sau này khi các cháu lớn thì chi phí sinh hoạt sẽ khác trong khi bà T là mẹ đơn thân hiện nay còn chưa có nhà để ở và chúng tôi rất e ngại về sự né tránh trách nhiệm của Công ty T6 luôn tìm mọi cách để né tránh, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bà T.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh khó khăn của của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định; đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị hại, bị đơn dân sự được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Văn A đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Lúc 01 giờ 30 phút ngày 10/5/2022, Đoàn Văn A điều khiển xe tô đầu kéo biển số 51C-602.51, kéo theo rơ moóc biển số 51R-066.41 lưu thông trên đường Q hướng từ ngã ba C - phường Đ, thành phố D về hướng phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, khi lưu thông vào giao lộ giữa đường GS1 và đường Q, Anh điều khiển xe chạy quá tốc độ cho phép, không tuân theo sự chỉ dẫn báo hiệu đường bộ dẫn đến tai nạn giao thông hậu quả làm chết 02 người, xe mô tô bị hư hỏng. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi

11

trên của bị cáo đã vi phạm khoản 11 Điều 8, khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018, 2019, vi phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đoàn Văn A theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị hại, bị đơn dân sự:

Đối với kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị hại là bà Đỗ Thị Ngọc Á: kháng cáo về phần trách nhiệm bồi thường dân sự yêu cầu Công ty T6 bồi thường cho gia đình các khoản như chi phí xây mộ là 50.000.000 đồng; mái vòm mộ là 9.479.000 đồng; chi phí cấp dưỡng cho bà Đỗ Thị Ngọc Á và ông Danh T4 đến trước khi chết là 5.000.000 đồng/2 người. Hội đồng xét xử nhận thấy: tại phiên tòa sơ thẩm giữa bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp cho các bị hại là bà Đỗ Thị Ngọc Á không thống nhất được mức bồi thường, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “Chi phí hợp lý cho việc mai táng đối với các khoản tiền: mua quan tài; chi phí hỏa táng, chôn cất; các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo phong tục, tập quán địa phương. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ”, vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo yêu cầu bồi thường chi phí xây mộ và xây mái vòm của bà Đỗ Thị Ngọc Á; đối với chi phí cấp dưỡng cho bà Đỗ Thị Ngọc Á và ông Danh T4 đến trước khi chết, ngoài 02 bị hại đã chết trong vụ án thì bà Á và ông T4 còn có 02 người con khác vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Ngọc Á.

Đối với kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị hại là bà Nguyễn Thị Thùy T: kháng cáo về phần trách nhiệm bồi thường dân sự yêu cầu Công ty T6 bồi thường 01 lần số tiền 607.880.000 đồng (167 tháng x 3.640.000 đồng) là tiền cấp dưỡng đối với con ruột của bị hại N là cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018 đến năm 18 tuổi, Hội đồng xét xử nhận thấy: việc cấp dưỡng là do các bên tự thỏa thuận về phương thức cấp dưỡng, việc buộc Công ty T6 bồi thường một lần chỉ được xem xét khi giữa công ty và bà T có thỏa thuận và Công ty T6 đồng ý. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty T6 là bên phải cấp dưỡng chấp nhận phương thức cấp dưỡng hàng tháng vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thùy T

Đối với kháng cáo của bị đơn dân sự là Công ty T6 do ông Đặng Văn H là người đại diện theo pháp luật: Xét thấy tại phiên tòa ông Trần T3 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty T6 kháng cáo xem xét lại lỗi của bị cáo và bị hại trong vụ án để xác định phần trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: tai nạn xảy ra là lỗi lớn thuộc về bị cáo A, bị hại cũng có một phần lỗi là có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo cũng xác nhận trong

12

hoàn cảnh đó dù bị hại có nồng độ cồn hay không thì hậu quả vẫn xảy ra do bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo vào giao lộ không giảm tốc độ, không quan sát nên đã để xe va chạm với xe mô tô. Căn cứ Điều 601 của Bộ luật Dân sự và Điều 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án tối cao “Về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, thì Công ty TNHH T6 là chủ sỡ hữu “nguồn huy hiểm cao độ” phải có nghĩa vụ bồi thường theo như bản án sơ thẩm đã tuyên, vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty T6.

[4] Việc bị cáo Đoàn Văn A bị Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tạm giữ giấy phép lái xe số [...] hạng FC do Sở giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2018 do có tin báo về vi phạm giao thông (thời điểm này bị cáo không bị tước giấy phép lái xe), sau đó bị cáo kê khai và được cấp mới lại vào ngày 04/3/2021. Xét thấy việc Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy phép lái xe này hợp lệ tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn A thừa nhận là đưa ra thông tin gian dối để được cấp lại Giấy phép lái xe vì vậy nên cần tịch thu, chuyển Sở Giao thông vận tại Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật.

[5] Đối với phần trách nhiện dân sự theo Bản án sơ thẩm đã tuyên “Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 hàng tháng phải cấp dưỡng nuôi cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018 (con của bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Danh Thành N; bà T làm đại diện) mỗi tháng 3.640.000 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) từ thời điểm tháng 6/2022 cho đến khi cháu D1 đủ 18 tuổi”, Hội đồng xét xử nhận thấy: nghĩa vụ cấp dưỡng thuộc về bị cáo là người trực tiếp gây ra cái chết cho bị hại D Thành Nhân nên bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của bị hại theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn A đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018 (con của bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Danh Thành N; bà T làm đại diện) mỗi tháng 3.640.000 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) từ thời điểm tháng 6/2022 cho đến khi cháu D1 đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận và sửa một phần Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự cho phù hợp.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thùy T là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[8] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[9] Án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo bị đơn dân sự không được chấp nhận nên Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Bà Đỗ Thị Ngọc Á, Bà Nguyễn Thị Thùy T không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

13

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Đỗ Thị Ngọc Á, bà Nguyễn Thị Thùy T và bị đơn dân sự là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6.

2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt như sau:

2.1 Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khoản 11 Điều 8, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018, 2019.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn A 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 07/9/2023.

3. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về biện pháp tư pháp và án phí sơ thẩm như sau:

3.1 Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585 và 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 bồi thường cho:

  • + Bà Nguyễn Thị Thùy T đại diện hợp pháp cho bị hại D Thành Nhân số tiền 166.903.000 đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu, chín trăm lẻ ba nghìn đồng).
  • + Bà Đỗ Thị Ngọc Á và ông Danh T4 đại diện hợp pháp cho bị hại D Thành Danh số tiền 234.310.000 đồng (hai trăm ba mươi bốn triệu, ba trăm mười nghìn đồng).

Bị cáo Đoàn Văn A có trách nhiệm hàng tháng phải cấp dưỡng nuôi cháu Danh Trí D1, sinh ngày 12/4/2018 (con của bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Danh Thành N; bà T làm đại diện) mỗi tháng 3.640.000 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) từ thời điểm tháng 6/2022 cho đến khi cháu D1 đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh

14

sốátiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3.2 Về xử lý vật chứng: Tịch thu để chuyển giao cho Sở giao thông vận tại thành phố Hồ Chí Minh: 01 Giấy phép hạng FC số [...] do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 04/3/2021 mang tên Đoàn Văn A.

3.3 Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

Bị cáo Đoàn Văn A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 phải nộp 20.049.000 đồng (hai mươi triệu, không trăm bốn mươi chín nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

4.

Án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

4.1 Án phí hình sự phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6, bà Đỗ Thị Ngọc Á và bà Nguyễn Thị Thùy T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm; Bà Đỗ Thị Ngọc Á và bà Nguyễn Thị Thùy T không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (2);
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Chum

15

- Lưu VP (4), hồ sơ vụ án, PHT, 15.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 155/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn A phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger