|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 155/2024/DS-PT Ngày 08-8-2024 V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán:
Ông Mai Anh Tuấn
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Bích Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023.
Do bản án dân sự số 124/2023/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 161/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QQĐ-PT ngày 14 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QQĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QQĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QQĐ-PT ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Luật sư Lê Ngọc V - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N.
- Bị đơn:
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1948 và bà Lương Thị Đ, sinh năm 1947; địa chỉ cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Anh Trần Văn B, sinh năm 1975 và chị Mai Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Luật sư Trần Việt H và Luật sư Nguyễn Hải N1, Văn Phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị M, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Chị Trần Thị H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Anh Trần Văn C, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Chị Trần Thị H2, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp D, S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Anh Trần Văn T3, sinh năm 1986 và chị Ngô Thị H3, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Ngô Thị M, chị Trần Thị H1, anh Trần Văn T2, anh Trần Văn T3, chị Ngô Thị H3, chị Trần Thị L: Anh Trần Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. (Theo giấy uỷ quyền ngày 05-01-2023).
- Anh Trần Văn A, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ H, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- Anh Trần Văn T4, sinh năm 1984 và chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ, chị Mai Thị N, chị Nguyễn Thị M1: Anh Trần Văn B, sinh năm 1975; anh Trần Văn A, sinh năm 1982 và anh Trần Văn T4, sinh năm 1984. (Theo giấy ủy quyền ngày 06-3-2023).
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K – Chủ tịch UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc T5 – Phó Chủ tịch UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng:
- Ông Mai Xuân P, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bà Mai Thị X, sinh năm 1951; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Ông Trịnh Thành C1, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Ông Trần Ngọc T6, sinh năm 1953; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Ông Mai Sỹ Q, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người kháng cáo: Bị đơn anh Trần Văn B.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Anh Trần Văn T; anh Trần Văn B; anh Trần Văn T2; anh Trần Văn T3; anh Trần Văn A; anh Trần Văn T4; Luật sư Lê Ngọc V; Luật sư Trần Việt H và Luật sư Nguyễn Hải N1 có mặt. Còn lại các đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Trần Văn T, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị M, chị Trần Thị H1, anh Trần Văn T2, anh Trần Văn T3, chị Ngô Thị H3, chị Trần Thị L trình bày:
Ông Trần Văn T7 và bà Ngô Thị M sinh được 07 người con gồm: Anh Trần Văn T, chị Trần Thị H1, anh Trần Văn C, chị Trần Thị H2, anh Trần Văn T2, anh Trần Văn T3 và chị Trần Thị L. Ông Trần Văn T7 chết ngày 29-9-2021 không để lại di chúc gì.
Ông T7, bà M có tài sản chung là thửa đất tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Nguồn gốc đất do được Nhà nước cấp theo diện gia đình chính sách
từ khoảng năm 1970. Năm 1985, ông T7 đã tặng cho ông Trần Văn T1 (là anh trai ông T7) 70m² đất ruộng lúa ở phía Bắc thổ đất, có nhờ ông Trần Ngọc T6 là bác họ viết hộ giấy tặng cho (đến nay đã bị thất lạc). Năm 1997, ông T7, bà M đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) của thửa 136, tờ bản đồ số 14, diện tích 870m² (trong đó đất ở 360m², đất vườn 435m², đất hai lúa 75m²) đứng tên hộ ông Trần Văn T7. Phần đất lúa tặng cho ông T1 đã phân định mốc giới sử dụng riêng nhưng chưa tách thửa trên hồ sơ địa chính. Khoảng năm 2000, ông T7 và ông T1 đều vượt lập phần đất ruộng tại thửa số 136, gia đình ông T1 làm vườn trồng cây còn gia đình ông T7 cho các con là anh T3, anh T2 xây nhà xưởng đúc nhôm.
Năm 2017, gia đình ông Trần Văn T1 chia tách thửa đất số 135 liền kề thửa đất số 136 cho 03 con nhưng không thông báo cho gia đình ông T7 ký xác nhận ranh giới đất liền kề. Năm 2021, ông T7 và bà M có dự định chia tách đất cho bốn con trai là anh T, anh T2, anh C, anh T3. Quá trình đo đạc để làm thủ tục chia tách đất thì phát hiện thấy vợ chồng anh B (con ông T1) đã xây nhà lấn sang ở cạnh phía Tây thổ đất của nhà ông T7, chiều rộng mặt đường phía Nam là 0,5m, chiều dài hết thổ, có hình tam giác, diện tích lấn chiếm theo như kết quả đo đạc của Công ty  là 17m². Hai bên gia đình đã nói chuyện tình cảm nhưng gia đình ông T1 và các con không thừa nhận lấn đất nên đã xảy ra tranh chấp.
Quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, phát hiện có sai sót trong việc cấp GCNQSDĐ của hộ ông Trần Văn T1. Cụ thể: Khi bố mẹ anh tặng cho ông T1 là loại đất lúa nhưng trên sơ đồ địa chính và GCNQSDĐ cấp cho ông T1 thì lại ghi thành đất vườn tạp, diện tích ghi trong giấy chứng nhận là 70m² cùng thửa số 136 của bố mẹ anh. Về vị trí đất tặng cho ông T1 thì năm 1985, khi chuyển nhượng thì diện tích đất lúa nằm ở phía sau cùng thửa đất của bố mẹ anh (tức phía Bắc thổ) nhưng trong sơ đồ địa chính lưu tại xã H thì diện tích 70m² đất lại chuyển lên vị trí giữa thổ đất 136 của bố mẹ anh. Khi phát hiện ra sai sót này, gia đình anh có nói chuyện với vợ chồng ông T1 thì vợ chồng ông T1 cũng công nhận trước đây vợ chồng ông T1 nhận giao đất là đất lúa ở phía Bắc thổ, ông T1 vẫn sử dụng ổn định từ đó cho đến nay.
Ngày 17-7-2021, UBND xã H đã tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai nhưng không thành do nhà ông T1, anh B không tham gia hòa giải. Tuy nhiên, sau phiên hòa giải của xã, gia đình ông T1 lại ý kiến khác, cho rằng vợ chồng ông T1 có 70m² đất vườn, nằm ở giữa thổ đất của bố mẹ anh.
Tháng 09-2021, bố anh là ông Trần Văn T7 qua đời, không để lại di chúc. Trước khi bố anh mất có ủy quyền cho anh là con trai cả đứng lên giải quyết việc đất đai của gia đình với gia đình ông T1. Sau khi hoà giải ở xã không thành anh đã làm đơn khởi kiện đến Toà và ngày 02-11-2021 đã được Toà án thụ lý giải quyết nhưng sau đó anh đã rút lại đơn khởi kiện để muốn giải quyết tình cảm nội bộ gia đình nên ngày 21-6-2022 Toà án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi anh rút đơn về, gia đình ông T1 lại có những lời lẽ xúc phạm nói biết thua kiện nên mới rút đơn. Do đó anh đã làm đơn khởi kiện lại yêu cầu Toà án
giải quyết việc tranh chấp đất giữa hai nhà theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể anh yêu cầu Toà án cấp sơ thẩm giải quyết:
Công nhận quyền sử dụng đất và xác định ranh giới của thửa đất số 136, tờ bản đồ số 14, diện tích 870m² tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đứng tên hộ ông Trần Văn T7 do mẹ con anh đang sử dụng.
Buộc vợ chồng anh Trần Văn B, chị Mai Thị N phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình anh theo đo đạc của Công ty  là 17m². Buộc anh B, chị N phải tự tháo rỡ công trình xây dựng trên đất lấn chiếm, gia đình anh không đồng ý đền bù giá trị công trình tháo rỡ, không đồng ý nhận thanh toán bằng tiền.
Huỷ các giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ và các con ông T1, bà Đ là anh Trần Văn B, anh Trần Văn A, anh Trần Văn T4 đối với các thửa số 291, 292, 293, cùng tờ bản đồ số 14 xã H.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn T1 đòi gia đình anh trả 70m² đất vườn ở vị trí phía Tây Nam thửa đất số 136 thì anh không đồng ý. Anh khẳng định do hồ sơ địa chính ghi nhầm là đất vườn và ghi ở vị trí giữa thổ là không đúng, thực tế là đất ruộng ở vị trí phía Bắc hiện nay gia đình ông T1 vẫn đang quản lý sử dụng.
Bị đơn ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ, anh Trần Văn B, chị Mai Thị N do anh Trần Văn B, anh Trần Văn A và anh Trần Văn T4 là người đại diện theo ủy quyền và cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất trình bày:
Ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ có thửa đất số 135 liền kề với thửa đất số 136 tại xóm A, xã H. Nguồn gốc đất do được bố mẹ bà Đ tặng cho; ngày 15-12-1997 đã cấp GCNQSDĐ với diện tích 890m² đứng tên hộ ông Trần Văn T1. Năm 2017 ông T1, bà Đ đã chia tách toàn bộ thửa đất số 135 thành 03 thửa tặng cho ba con trai là anh Trần Văn B, anh Trần Văn A, anh Trần Văn T4 và ngày 16-3-2017 đều đã được cấp GCNQSDĐ. Anh B, chị N đứng tên sử dụng thửa số 293, diện tích 280m²; anh A đứng tên sử dụng thửa số 292 diện tích 305m²; anh T4, chị M1 đứng tên sử dụng thửa số 291 diện tích 305m². Việc chia tách đất có nhờ cán bộ địa chính xã H đến đo đạc hiện trạng và giúp làm thủ tục hồ sơ. Vợ chồng anh B, chị N đã xây nhà ở năm 2017 và xây đúng ranh giới đất được bố mẹ tặng cho.
Ngoài ra ông T1, bà Đ còn được cụ T8 (là mẹ đẻ ông T1, ông T7) tặng cho 70m² đất vườn tạp nhưng chung thửa số 136 với gia đình ông T7, bà M. Ông T1 đã được GCNQSDĐ ngày 15-12-1997. Vị trí 70m² đất trước đây gia đình ông T1 sử dụng làm ngõ đi ra đường xóm phía Nam, gia đình ông T7 cũng đi chung ngõ vì phía Nam giáp đường xóm có hai ao của hai gia đình chắn lối, sau này hai nhà lấp ao thì đi riêng ra đường xóm. Đến năm 2012 anh Trần Văn C (là con trai ông T7) đã đào ngõ đi cũ của gia đình ông T1 để xây móng nhà nhưng đến nay chưa hoàn thiện nhà.
Khoảng năm 2021, khi ông T7 còn sống có ý định chia tách đất cho các con thì ông T1 có nói với ông T7 trả cho ông T1 70m², ông T7 có ý định trả nhưng anh em anh T không đồng ý nên gia đình ông T1 không ký giáp ranh cho gia đình ông T7 tách thửa cho con. Một thời gian sau thì ông T7 chết, năm 2022 ông T làm đơn kiện ra Toà. Trước khi mở phiên toà, Toà án đã hoà giải sau đó ông T rút đơn, Toà đình chỉ vụ án.
Hiện nay ông T1, bà Đ có sử dụng phần đất ruộng giáp thửa số 136 ở phía Bắc có nguồn gốc được cụ T8 tặng cho ông T1 từ năm 1985. Gia đình ông T1 đã quản lý, sử dụng đất từ năm 1985 đến nay và đã vượt lập đất ruộng làm vườn trồng chuối. Khi xóm họp mở đường phía Bắc (phía sau nhà) thì gia đình ông T1 cũng tự nguyện hiến một phần đất của gia đình được chia và phần đất ruộng giáp phía Bắc thửa 136. Diện tích đất hiến tặng chỉ thống nhất miệng, không đo đạc diện tích cụ thể, không đăng ký biến động theo quy định pháp luật. Hiện tại đường xóm đã xây mốc hai bên đường rõ ràng nhưng chưa hoàn thiện mặt đường.
Đến nay quan điểm của gia đình ông T1 và anh B xác định không lấn đất của gia đình ông T7, bà M nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T. Ngoài ra ông T1 có yêu cầu phản tố yêu cầu bà M và các con bà M, ông T7 phải trả 70m² đất vườn tại thửa số 136 do gia đình bà M đang quản lý. Vị trí đất phải trả giáp phía Đông Nam thửa đất số 293 của vợ chồng anh B, chị N hiện nay. Công trình trên đất có móng nhà thì gia đình bà M và các con bà M phải tự tháo rỡ, gia đình ông T1 không đồng ý đền bù giá trị xây dựng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là anh Trần Văn C, anh Trần Văn T2 và anh Trần Văn T3 thống nhất trình bày:
Các anh thống nhất với lời trình bày của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn C trình bày thêm: Năm 2012 anh C có xây 01 móng nhà dài khoảng 20m, rộng 5,70m giáp nhà anh B hiện nay. Đến nay vẫn chưa hoàn thiện nhà. Khi xây móng thì không có tranh chấp gì với gia đình ông T1 và các con ông T1. Có căng dây để xác định mốc giới, ranh giới đất để xây móng.
Anh Trần Văn T2 trình bày bổ sung: Năm 2021 anh có xây 01 nhà xưởng để làm nghề cơ khí ở phía Bắc thổ đất 136 của bố mẹ, giáp phần đất lúc của gia đình ông T1 (hiện là vườn trồng chuối). Phía Tây nhà xưởng anh làm hết đất giáp với đất của nhà anh B.
Anh Trần Văn T3 trình bày bổ sung; Năm 2014 anh có xây nhà 02 tầng trên đất của bố mẹ ở phía Đông thổ giáp nhà anh P1 để ở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã H tại văn bản số 36/BC-UBND ngày 19-7-2023 có ý kiến trình bày:
Theo hồ sơ địa chính thì Thửa đất số 136, tờ bản đồ số 14 xã H, diện tích 940m² đã cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 1997 cho hộ ông Trần Văn T7 sử dụng 870m² (trong đó đất ở 360m², đất vườn 345m², đất hai lúa 75m²) và cho hộ ông Trần Văn T1 sử dụng 70m² (đất vườn tạp). Thửa đất số 135, tờ bản đồ số 14 xã H, diện tích 890m² (trong đó đất ở 300m², đất vườn 390m², đất ao 200m²) đã được cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 1997 cho hộ ông Trần Văn T1.
Năm 2017, hộ ông T1 làm thủ tục tách thửa đất số 135 thành 03 thửa đất mới và tặng cho ba con trai, cụ thể: Thửa số 291, diện tích 305m² tặng cho anh Trần Văn T4, chị Nguyễn Thị M1. Thửa số 292, diện tích 305m² tặng cho anh Trần Văn A. Thửa số 293, diện tích 280m² tặng cho anh Trần Văn B, chị Mai Thị N. Đến nay hộ anh B, hộ anh A và hộ anh T4 đều đã được cấp GCNQSDĐ. Còn Thửa số 136 đứng tên ông Trần Văn T7 và ông Trần Văn T1 sử dụng chung thì đến nay không có thông tin biến động. Hiện tại vợ con ông T7 đang sử dụng phần đất giáp đường xóm phía Nam, còn gia đình ông T1 sử dụng phần đất phía Bắc của thửa số 136. Việc gia đình ông T1 được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích 70m² đất vườn tại thửa số 136 nhưng lại đang sử dụng phần đất hai lúa ở phía Bắc thì UBND xã không xác định được nguyên nhân do nhầm lẫn khi cấp GCNQSDĐ hay do các hộ tự thoả thuận đổi cho nhau sử dụng.
Về việc mở đường xóm mới giáp các thửa đất tranh chấp ở phía Bắc là do các hộ dân trong xóm tự nguyện hiến đất của gia đình để thuận lợi trong việc giao thông và phát triển kinh tế do xóm chủ trì thực hiện. Đến nay công trình chưa hoàn thiện, UBND xã chưa nắm được diện tích cụ thể của từng hộ hiến đất nên chưa có hướng dẫn người dân làm thủ tục đăng ký biến động theo pháp luật.
Về việc UBND xã H chứng thực các Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập năm 2017 giữa vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ và các con trai là anh Trần Văn B, anh Trần Văn A, anh Trần Văn T4 đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Nay ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu hủy các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên thì UBND xã H đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Người làm chứng ông Trần Ngọc T6 trình bày: Ông có quan hệ họ hàng với gia đình ông T1 và gia đình ông T7 (là bố đẻ anh T). Nguồn gốc thổ đất của gia đình ông T1, bà Đ thì ông được biết là do được bố mẹ bà Đ để lại thừa kế cho vợ chồng ông T1, bà Đ. Nguồn gốc thổ đất gia đình ông T7 trước đây là đất trồng cây, trong thời gian chiến tranh đã được sử dụng làm kho muối, sau này được chính quyền địa phương hoán đổi đất cho gia đình cụ T8 (là mẹ đẻ ông T7 và ông T1), vợ chồng ông T7 chuyển đến ở trước sau đó cụ T8 chuyển ra ở cùng với ông T7.
Khoảng năm 1985 ông được cụ T8 nhờ đến đo đất chia cho ông T1 02 miếng đất (72m²) ở phía sau nhà (phía Bắc) giáp mương nước tập thể, ông đã viết hộ 02 giấy xác nhận cụ T8 cho đất đưa cho ông T1 và ông T7 mỗi người giữ 01 bản. Hiện trạng đất cụ T8 chia cho ông T1 là đất vườn nhưng gia đình ông T7 đã đào đất đóng gạch làm nhà nên khi đó hiện trạng là thùng trũng, sau khi nhận đất ông T1 đã san lấp làm vườn trồng cây như hiện trạng hiện nay. Ngoài 02 miếng đất ở phía Bắc thổ đất cụ T8 cho ông T1 thì ông không biết ông T1 có 70m² đất vườn trong thổ đất với ông T7.
Ông biết trước đây phía trước nhà ông T7 và phía trước nhà ông T1 đều có ao nên hai gia đình đi chung ngõ, sau khi lấp ao thì hai nhà đều giáp đường xóm nên đi riêng. Phía sau hai nhà (tức phía Bắc) giáp mương nước của tập thể. Ông không thấy hai gia đình trồng lúa trong thổ bao giờ. Đến khoảng năm 2020 – 2021 thì gia đình ông T7 và gia đình ông T1 phát sinh mâu thuẫn về đất đai, ông có tham gia hoà giải nội bộ nhưng hai bên không thống nhất được. Nay hai bên tranh chấp ra Toà, ông không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
Người làm chứng ông Mai Sỹ Q trình bày: Ông nguyên là cán bộ địa chính xã H từ năm 1982 đến năm 2018 nghỉ hưu trí. Khi còn công tác tại xã, ông không tham gia giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Trần Văn T7 và gia đình ông Trần Văn T1 lần nào. Năm 2017, ông có hướng dẫn gia đình ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ làm thủ tục tách thửa đất của vợ chồng ông T1 tại xóm A, xã H để tặng cho ba con trai. Khi làm thủ tục, ông có trực tiếp đến đo đạc, xác định mốc giới đất; gia đình ông T7 ở liền kề không có ý kiến tranh chấp gì. Đất của ông T1 làm thủ tục tách thửa thì không có đất lúa trong thổ, còn đất của ông T7 thì hồ sơ pháp lý có đất lúa nhưng không trồng lúa mà làm vườn trồng cây.
Trường hợp ông Trần Văn T1 được cấp GCNQSDĐ đối với 70m² đất vườn chung thửa đất với hộ ông Trần Văn T7 trong thời gian ông làm cán bộ địa chính thì do thời gian đã lâu ông không nhớ thủ tục. Theo ông được biết về chuyên môn thì không phải trường hợp nào vị trí tên chủ sử dụng đất chung thửa ghi trên bản đồ địa chính cũng vị trí hiện trạng đất trên thực địa vì nếu khi đo không xác định được vị trí sử dụng đất rõ ràng của từng chủ sử dụng đất thì ghi tên trên bản đồ cũng không chính xác, có trường hợp do có chỗ trống trên bản đồ thì ghi tên chủ sử dụng đất ở đó (tức gửi vị trí).
Người làm chứng ông Mai Xuân P trình bày: Ông là xóm trưởng xóm 12 nên có tham gia giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Trần Văn T7 và gia đình ông Trần Văn T1 nhiều lần. Ông có biết nguồn gốc thổ đất của gia đình ông T1, bà Đ là của bố mẹ đẻ bà Đ, nguồn gốc thổ đất của ông T7 là của cụ T8 do nhà nước thu hồi của chủ đất cũ di cư đi M để lại từ khoảng năm 1970, sau đó gia đình ông T7 ở với cụ T8. Ông chỉ thấy gia đình ông T1 xây nhà ở thổ đất có nguồn gốc được bố mẹ bà Đ để lại cho nhưng ông T1 có sử dụng phần đất phía Bắc thổ đất gia đình ông T7 ở liền kề giáp mương và đất ruộng của Hợp tác xã, trước đây ông T1 có trồng lúa sau đó lấp làm vườn trồng cây chuối như hiện nay. Trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp đất giữa hai nhà thì gia đình ông T1 có nói ngoài 70m² đất ruộng ở phía Bắc đang sử dụng thì gia đình ông T1 còn được cấp GCNQSDĐ đối với 70m² đất vườn nhưng gia đình ông T1 chưa sử dụng, yêu cầu gia đình ông T7 trả lại. Ông cũng chỉ thấy gia đình ông T1 sử dụng đất ở vị trí phía Bắc giáp mương chứ không thấy sử dụng đất ở vị trí phía Nam thổ của gia đình ông T7.
Năm 2020 các hộ trong xóm đã quy hoạch mở đường xóm mới ở phía Bắc, đã cắm mốc đường, xây bờ ngăn nhưng đến nay chưa hoàn thiện, các hộ có đất liền kề có tự nguyện hiến đất nhưng không đo đạc xác định diện tích cụ thể. Ông được biết gia đình ông T1 và các con có tham gia hiến đất giáp đường, còn gia đình ông T7, bà M không có đất giáp đường xóm mới nên không hiến đất.
Người làm chứng bà Mai Thị X và anh Trịnh Thành C1 thống nhất trình bày: Các ông, bà là hàng xóm và có đất liền kề với đất của ông Trần Văn T7, bà Ngô Thị M và ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ. Các ông, bà không có tranh chấp ranh giới đất với hai hộ, không liên quan đến việc tranh chấp đất của hai hộ.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên ngày 05-4-2023 Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã tiến hành khảo sát và thành lập Hội đồng định giá tài sản đối với diện tích đất tranh chấp. Theo kết quả định giá thì Hội đồng định giá tài sản đối với diện tích đất tranh chấp xác định giá chung là 15.000.000 đồng/1m². Theo kết quả đo đạc hiện trạng của Công ty TNHH Â thì thửa đất số 136 có tổng diện tích hiện trạng sử dụng là 891m² trong đó hộ ông T7, bà M quản lý sử dụng 833m² (gồm cả diện tích 70m² đất ông T1 đang tranh chấp do chung thửa) và hộ ông T1, bà Đ quản lý sử dụng 89m² (trong đó có 31m² đất đã hiến tặng mở đường xóm phía Bắc nhưng chưa kê khai đăng ký theo quy định pháp luật). Diện tích hiện trạng của thửa đất số 136 giảm 37m² so với tổng diện tích đã cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T7 và hộ ông T1 năm 1997. Nguyên nhân biến động là do có việc hiến đất mở rộng đường bê tông xóm phía Nam và hiến đất mở đường xóm phía Bắc nhưng không có thông tin đăng ký biến động; ranh giới phía Đông giáp hộ ông B1 (bà X) và hộ anh P1 không có tranh chấp gì. Thửa đất số 293 (liền kề thửa đất số 136) có diện tích theo hiện trạng là 288m² (trong đó có 17m² đang tranh chấp với nguyên đơn), tăng 08m² so với GCNQSDĐ đã cấp cho anh B, chị N. Thửa đất số 291 và thửa đất số 292 cùng có diện tích là 308m², đều tăng so với GCNQSDĐ đã cấp cho anh T4 và anh A là 03m². Về việc tăng diện tích hiện trạng sử dụng của các thửa đất số 291, 292, 293 (được tách ra từ thửa đất số 135 cũ) so với GCNQSDĐ đã cấp, có nguyên nhân do kích thước chiều dài các thửa đất trên đều tăng từ 0,6m đến 01m do lấn đất mương cũ ở phía Bắc khi mở đường xóm; còn chiều rộng các thửa đất đều không thay đổi so với số liệu đo đạc khi tách thửa năm 2017; ranh giới phía Tây của thửa số 291 (thuộc thửa số 135 cũ) giáp hộ ông Trịnh Thành C1 không có tranh chấp gì.
Từ nội dung trên. Tại bản án sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 15-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã quyết định:
Căn cứ các Điều 166, 168, 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 95, 166, 170 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 157, 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 228; khoản 2 Điều 229; 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ, anh Trần Văn B, chị Mai Thị N.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 136, tờ bản đồ số 14 của hộ bà Ngô Thị M (bà T7) và thửa đất số 293, tờ bản đồ số 14 của anh Trần Văn B, chị Mai Thị N có địa chỉ tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định theo hiện trạng sử dụng là các đoạn thẳng được xác định theo các điểm (9, 14,15, 16, A) trên sơ đồ kèm theo bản án. Cụ thể: Đoạn 9-14 dài 28,6m; đoạn 14-15 dài 6,4m; đoạn 15-16 dài 23,1m; đoạn 16-A dài 1,25m.
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T về việc yêu cầu hủy các Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cùng ngày 17-01-2017 giữa vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ và các con ông T1, bà Đ là anh Trần Văn B, anh Trần Văn A, anh Trần Văn T4 đối với các thửa số 291, 292, 293, cùng tờ bản đồ số 14 tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T1.
Công nhận ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ có quyền sử dụng diện tích 70m² đất (loại đất CLN) thuộc thửa số 136, tờ bản đồ số 14 tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định theo GCNQSDĐ số M 420829 do UBND huyện H cấp ngày 15-12-1997 được giới hạn bởi các điểm (A, 4, 18, 19, 20, 21, 5, B, A) trên sơ đồ kèm theo bản án. Cụ thể đoạn A-4 dài 2,65m; đoạn 4-18 dài 0,4m; đoạn 18-19 dài 1,3m; đoạn 19-20 dài 15,1m; đoạn 20-21 dài 2,0m; đoạn 21-5 dài 0,4m; đoạn 5-B dài 2,55m; đoạn B-A dài 15,03m.
Xác nhận phần đất diện tích 19m² (loại đất LUC) thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 14 tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định được giới hạn bởi các điểm (6, 16, A, B, 6) trên sơ đồ kèm theo bản án thuộc quyền sử dụng của hộ bà Ngô Thị M. Cụ thể đoạn 6-16 dài 15m; đoạn 16-A dài 1,25m; đoạn A-B dài 15,03m; đoạn B-6 dài 1,25m.
Buộc ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ phải di dời cây cối, hoa màu trên phần đất không thuộc quyền sử dụng của mình để trả lại 19m² đất cho hộ bà Ngô Thị M. (Có sơ đồ quyền sử dụng đất kèm theo bản án sơ thẩm).
- Các đương sự có trách nhiệm đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về quyền sử dụng đất được sử dụng theo ranh giới được xác định tại bản án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29-8-2023, anh Trần Văn B kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T1 đối với bản án sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 15-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Quá trình thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Ngày 06-5-2024 Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H và được địa phương cung cấp: Căn cứ vào Sổ địa chính lập năm 1997 thì phần diện tích đất 70m² đang tranh chấp tại tờ bản đồ số 136 của gia đình ông T1 được cấp trong phần diện tích đất nhà ông T7 là đất vườn. Tuy nhiên, theo quyết định bản án sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 15-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định thì lại giao cho gia đình ông T1 phần diện tích đất 70m² đang tranh chấp tại vị trí là đất hai lúa theo Sổ mục kê đất của xã H lập năm 1999. Hiện trạng phần đất hai lúa mà tòa án cấp sơ thẩm giao cho ông T1 tiếp tục sử dụng đã được san lấp và trồng cây ăn trái từ nhiều năm về trước. Căn cứ vào thực tế sử dụng đất nên tòa án cấp sơ thẩm đã cấp phần diện tích đất hai lúa cho gia đình ông T1 tiếp tục sử dụng. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân xã H không cung cấp thêm tài liệu gì mới và không trình bày thêm vấn đề gì.
Mặt khác, xét thấy mức giá do Hội đồng định giá tài sản đối với diện tích đất tranh chấp xác định giá chung là 15.000.000 đồng/1m² là có sự không công bằng giữa đất thổ cư với đất vườn tạp và đất hai lúa nên gia đình ông T1 có yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm định giá lại đối với giá của đất vườn tạp và giá của đất hai lúa để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét thấy yêu cầu này là cần thiết và có cơ sở. Ngày 17-7-2024, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định thành lập Hội đồng định giá tài sản đối với diện tích đất tranh chấp đối với giá của đất vườn tạp và giá của đất hai lúa. Hội đồng định giá tài sản xác định giá đất vườn tạp sau chuyển đổi tại thời điểm định giá có giá trị là 14.000.000 đồng/1m²; giá đất hai lúa tại thời điểm định giá được xác định có giá trị là 220.000 đồng/1m²;
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn B. Giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm.
Bị đơn anh Trần Văn B trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo và sửa quyết định của bản án dân sự sơ thẩm theo hướng cắt 70m² đất vườn tạp trả lại cho gia đình nhà ông T1 như được thể hiện tại GCNQSDĐ. Cụ thể gia đình lấy phần diện tích đất tại phần S3 = 70m² theo sơ đồ hoặc ở vị trí giáp đường phía nam thửa đất. Nếu không thì 70m² đất hai lúa, phần còn thiếu thì cắt tiếp diện tích đất vườn cho đủ; Nếu nữa thì 70m² đất hai lúa cộng 19m² đất vườn trước đó gia đình tôi vẫn sử dụng và còn thiếu thì thanh toán chênh lệch bằng tiền theo giá trị Hội đồng định giá đã định giá.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Nhất trí quan điểm của bị đơn. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo và sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng cắt 70m² đất vườn tạp trả lại cho gia đình nhà ông T1 như được thể hiện tại GCNQSDĐ. Cụ thể gia đình ông T1 lấy phần diện tích đất tại phần S3 = 70m² theo sơ đồ hoặc ở vị trí giáp đường phía nam thửa đất. Nếu không thì 70m² đất hai lúa và phần còn thiếu thì cắt tiếp diện tích đất vườn cho đủ; Nếu nữa thì 70m² đất lúa cộng 19m² đất vườn trước đó gia đình tôi vẫn sử dụng và còn thiếu thì thanh toán chênh lệch bằng tiền theo giá trị Hội đồng định giá đã định giá để đảm bảo quyền và lợi ích cho gia đình ông T1.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Đề nghị HĐXX bác yêu cầu phản tố, bác yêu cầu kháng cáo của ông T1, bà Đ, anh Trần Văn B và giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm. Vì gia đình anh B không đưa ra được vị trí đất vườn được ông T7 tặng cho, GCNQSDĐ nhà ông T1 cũng không thể hiện vị trí tọa lạc của 70m² đất vườn ở phần nào; bản thân gia đình ông T1 cũng xác nhận đã sử dụng ổn định phần diện tích đất ở phía bắc thổ từ những năm 1985 đến nay. Ngoài ra, diện tích đất toàn thửa của hộ gia đình ông T7 đang giảm, hộ gia đình ông T1 tăng so với GCNQSDĐ nên 70m² đất vườn này có thể đã được giao cho nhà ông T1. Từ phân tích trên, không có căn cứ để trả phần diện tích đất vườn cho nhà ông T1 nên đề nghị HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án như cấp sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm và xem xét đơn kháng cáo của anh Trần Văn B. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định thấy rằng. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu thu thập lưu hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định xét thấy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn B.
Nên đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308; 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn B, sửa bản án sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 15-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo hướng buộc hộ gia đình bà Ngô Thị M phải thanh toán cho gia đình ông T1 giá trị của 70m² đất vườn; buộc gia đình ông T1 phải thanh toán cho gia đình ông T7 giá trị của 31m² đất hai lúa tự hiến. Theo giá của Hội đồng định giá tài sản ngày 17-7-2024 đã xác định.
Về án phí, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét kháng cáo của đương sự:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn anh Trần Văn B làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Trần Văn T khởi kiện về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất. Nguyên đơn, bị đơn và đất tranh chấp đều có địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Do đó, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định thụ lý và giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn B và là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T1 và bà Lương Thị Đ:
[3.1] Ông Trần Văn T1 có yêu cầu phản tố cho rằng ông có 70m² đất vườn chung với thửa đất số 136 của hộ ông T7, bà M và được cấp GCNQSDĐ năm 1997. Vị trí đất trước đây ông làm ngõ đi, năm 2012 anh C (con ông T7) đã xây móng nhà trên phần đất ngõ này, khi ông T7 còn sống ông T1 đã nhiều lần đòi lại nhưng các con ông T7 không đồng ý. Nay ông yêu cầu gia đình bà M và các con bà mậu phải trả cho gia đình ông sử dụng.
Anh Trần Văn T, anh Trần Văn T2, anh Trần Văn C, anh Trần Văn T3 là các con của ông T7, bà M đều công nhận gia đình ông T1 có 70m² đất chung thửa với gia đình ông T7, nhưng cho rằng vị trí đất ở phía Bắc của thửa số 136 hiện ông T1 đang quản lý sử dụng. Trong GCNQSDĐ cấp cho ông T1 được xác định 70m² đất vườn là không đúng với thực tế đã sử dụng trước đây khi các hộ đã giao là đất hai lúa.
[3.2] Căn cứ lời trình bày của các đương sự và hồ sơ địa chính được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở xác định ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ có quyền sử dụng 70m² đất (đất vườn) tại thửa đất số 136, tờ bản đồ số 14, có tổng diện tích 940m² tại xóm A, xã H, huyện H. Ngày 15-12-1997 đã được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ mang tên hộ ông Trần Văn T1 nhưng chung thửa với hộ ông Trần Văn T7 và bà Ngô Thị M (là bố đẻ của nguyên đơn). Do cấp chung cùng một thửa nên đất của hộ ông T1 và hộ ông T7 chưa xác định được ranh giới trên hồ sơ địa chính. Xét thực tế sử dụng đất của hai hộ và theo
lời trình bày của các đương sự, của người làm chứng là ông Trần Ngọc T6, ông Mai Xuân P, ông Mai Sỹ Q và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05-4-2023 thì hiện tại gia đình ông T1 đang quản lý, sử dụng phần diện tích 70m² đất hai lúa tại vị trí phía Bắc thửa số 136 từ khoảng năm 1985 đến nay. Tuy nhiên, phần diện tích đất ông T1 đang quản lý là 89m², tăng so với GCNQSDĐ đã cấp là 19m² (trong đó có 31m² theo kê khai thì gia đình ông T1 đã tự hiến đất để mở đường xóm phía Bắc nhưng chưa đăng ký biến động). Phần đất gia đình bà M và các con đang quản lý ở phía Nam thửa số 136 hiện có là 833m² (giảm so với GCNQSDĐ đã cấp là 37m², trong đó có cả 70m² đất ông T1 đang tranh chấp ở phía Tây Nam giáp đất anh B, chị N), lý do giảm là có việc mở rộng đường bê tông xóm phía Nam nên đất giáp đường sử dụng lùi vào trong thổ. Việc ông T1, anh B, anh A, anh T4 có lời khai cho rằng 70m² đất tranh chấp trước đây gia đình ông T1 đã sử dụng làm ngõ đi ra đường xóm phía Nam nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Trong khi đó phần đất gia đình ông T1 đang tranh chấp đã được anh Trần Văn C là con trai ông T7, bà M xây móng nhà từ năm 2012 hiện nay vẫn còn nguyên móng nhà, năm 2017 anh Trần Văn B xây nhà sát móng nhà của anh C nhưng gia đình ông T1 cũng không có ý kiến tranh chấp đất với gia đình ông T7, bà M. Tại cấp sơ thẩm các con của ông T1 là anh B, anh A, anh T4 cho rằng phần đất phía Bắc thửa số 136 là đất hai lúa của cụ T8 (mẹ đẻ ông T7, ông T1) tặng cho riêng từ năm 1985 nên không liên quan đến diện tích 70m² đất vườn mà ông T1 được cấp GCNQSDĐ năm 1997. Tuy nhiên đối chiếu giữa bản đồ 299 lập năm 1985, bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997 của xã H và sơ đồ đo vẽ hiện trạng ngày 05-4-2023 của Công ty TNHH Â thì phần đất phía Bắc thửa đất gia đình ông T1 đang quản lý sử dụng nằm trong ranh giới của thửa đất số 136, từ trước đến nay cạnh phía Bắc thửa số 136 chỉ giáp mương nước của Tập thể (nay đã mở đường xóm mới), không giáp đất ruộng hai lúa của tổ chức, cá nhân nào. Mặt khác nếu theo lời khai trên của các con ông T1 thì tổng diện tích đất của gia đình ông T1 có trong thửa số 136 sẽ là 159m² (70m² + 89m²), trong khi đó tổng diện tích hiện trạng sử dụng của thửa số 136 là 922m² (còn thiếu 18m² so với hồ sơ địa chính) thì hộ ông T7, bà M chỉ còn 763m² (bị thiếu so với GCNQSDĐ là 107m²) như vậy lời khai của các con ông T1 không phù hợp với hồ sơ địa chính thửa đất cũng như hiện trạng sử dụng đất, nên quan điểm này không được chấp nhận. Do vậy, có cơ sở xác định ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ có quyền sử dụng 70m² đất (đất vườn) tại thửa đất số 136. Từ các chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T1, xác định ông T1 và bà Đ có quyền sử dụng 70m² đất thuộc thửa số 136, tờ bản đồ số 14 xã H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3.3] Căn cứ Biên bản xác minh ngày 06-5-2024 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại Sổ địa chính xã H lập năm 1997 thì phần diện tích đất 70m² đang tranh chấp tại thửa đất số 136 của gia đình ông T1 được cấp trong phần diện tích đất nhà ông T7 là loại đất vườn. Theo quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 15-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định thì lại giao cho gia đình ông T1 sử dụng diện tích 70m² đất tại vị trí đất hai lúa. Theo Sổ mục kê đất của xã H lập năm 1999. Phần diện tích đất hai lúa mà cấp sơ thẩm giao cho ông T1 cũng đã được san lấp và trồng hoa màu từ nhiều năm về trước. Căn cứ vào thực tế sử dụng đất, giá trị chênh lệch do Hội đồng định giá đã xác định thì phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giao phần diện tích đất hai lúa cho gia đình ông T1 để sử dụng mà không trả chênh lệch cho ông T1 là không đúng với ý nguyện của người cho tài sản và người được nhận tài sản bị thiệt so với tài sản được cho.
[3.4] Từ các nhận định, chứng cứ như trên. Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn B, xác định ông T1 và bà Đ có quyền sử dụng 70m² đất (loại đất vườn tạp) thuộc thửa số 136, tờ bản đồ số 14 xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế sử dụng đất theo hiện trạng do gia đình ông T1 đang quản lý sử dụng cũng như quá trình sử dụng thì gia đình ông T1 đã sử dụng ổn định phần diện tích đất hai lúa từ những năm 1985 đến nay và theo trình bày của gia đình ông T1 thì gia đình ông cũng đã tự hiến 31m² đất hai lúa này trong thời gian gia đình ông đang trực tiếp quản lý sử dụng cho địa phương. Ngoài ra, hiện tại toàn bộ diện tích đất của gia đình ông T7 đã được các con ông T7 xây nhà xưởng ổn định để sản xuất, kinh doanh ngành nghề nên cũng không thể cắt đất để trả cho gia đình ông T1. Do vậy, xác định phần diện tích 70m² đất hai lúa mà gia đình ông T1 sử dụng từ những năm 1985 đến nay cần tiếp tục giao cho gia đình ông T1 quản lý, sử dụng. HĐXX phúc thẩm căn cứ vào kết quả định giả tài sản ngày 17-7-2024 để giải quyết vụ án và sẽ buộc gia đình bà M phải thanh toán chênh lệch đối với giá trị đất vườn còn thiếu theo quy đổi giữa đất vườn với đất hai lúa cho gia đình ông T1 theo giá do Hội đồng định giá đã xác định.
[4] Việc gia đình ông T1 đã tự hiến 31m² diện tích đất hai lúa do gia đình ông đang quản lý tại thửa số 136 cho địa phương để mở đường xóm phía Bắc nhưng do chưa kê khai đăng ký nên chưa có cơ sở xác định là đất công cộng, do đó phần diện tích đất hiến tặng vẫn thuộc quyền sử dụng của hộ ông Trần Văn T1, nếu sau này các bên vẫn đồng ý hiến tặng thì phải kê khai đăng ký theo quy định của pháp luật.
Từ phân tích trên. HĐXX phúc thẩm buộc hộ gia đình bà Ngô Thị M còn phải thanh toán cho gia đình ông T1, bà Đ giá trị chênh lệch giữa đất vườn với đất hai lúa còn thiếu. Cụ thể: (70m² đất vườn X 14.000.000 đồng) – (70m² đất hai lúa X 220.000 đồng) = 964.600.000 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản gia đình ông T1 tự nguyện nộp toàn bộ. Xác nhận ông T1 đã nộp chi phí tố tụng tại Tòa án và đã thanh toán xong.
[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 13, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo được chấp nhận nên ông T1, bà Đ không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Ông T1, bà Đ là người cao tuổi nên cũng được miến các loại án phí khác.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 BLTTDS. Chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn B. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 15-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Căn cứ các Điều 157, Điều 165, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. các Điều 105; Điều 106; Điều 107; Điều 111; Điều 115; Điều 166; Điều 168; Điều 175; Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 95; Điều 166; Điều 170; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T1.
Công nhận ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ có quyền sử dụng diện tích 70m² đất (loại đất hai lúa) thuộc thửa số 136, tờ bản đồ số 14 tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 420829 do UBND huyện H cấp ngày 15-12-1997 được giới hạn bởi các điểm (A, 4, 18, 19, 20, 21, 5, B, A) trên sơ đồ kèm theo bản án. Cụ thể đoạn A-4 dài 2,65m; đoạn 4-18 dài 0,4m; đoạn 18-19 dài 1,3m; đoạn 19-20 dài 15,1m; đoạn 20-21 dài 2,0m; đoạn 21-5 dài 0,4m; đoạn 5-B dài 2,55m; đoạn B-A dài 15,03m. (Như sơ đồ quyền sử dụng đất kèm theo bản án sơ thẩm).
Buộc hộ gia đình bà Ngô Thị M còn phải thanh toán giá trị chênh lệch của đất vườn tạp với đất hai lúa cho gia đình ông T1, bà Đ. Sau khi đã đối trừ, số tiền mà hộ gia đình bà Ngô Thị M còn phải tiếp tục thanh toán cho gia đình ông T1, bà Đ là 964.600.000₫ (Chín trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Xác nhận phần đất diện tích 19m² (loại đất LUC) thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 14 tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định được giới hạn bởi các điểm (6, 16, A, B, 6) trên sơ đồ kèm theo bản án thuộc quyền sử dụng của hộ bà Ngô Thị M. Cụ thể đoạn 6-16 dài 15m; đoạn 16-A dài 1,25m; đoạn A-B dài 15,03m; đoạn B-6 dài 1,25m.
Buộc ông Trần Văn T1, bà Lương Thị Đ phải di dời cây cối, hoa màu trên phần đất không thuộc quyền sử dụng của mình để trả lại 19m² đất cho hộ bà Ngô Thị M.
- Các đương sự có trách nhiệm đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về quyền sử dụng đất được sử dụng theo ranh giới được xác định tại bản án.
- Về chi phí tố tụng: Anh B tự nguyện nộp toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản. Xác nhận anh B đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng tại Tòa án và đã thanh toán xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, ngoài ra ông Trần Văn T1 và bà Lương Thị Đ là người cao tuổi nên ông T1, bà Đ không phải nộp án phí và được miễn án phí.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Cảnh |
Bản án số 155/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 155/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T - Trần Văn Tr "tranh chấp ranh giới QSDĐ"
