Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày: 05/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Anh Tuấn.

Bà Vương Thị Minh Tân.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 12/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Sỹ T, sinh năm: 1980; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số E đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông: Trần Sỹ L, con bà: Trần Thị M; gia đình có 03 chị em; vợ, con: Không; tiền án: Bản án số 58/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Sỹ T 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2021; chưa thi hành nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm). Bản án số 315/2016/HS-ST ngày 31/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Sỹ T 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/3/2018; chưa thi hành nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và truy thu sung quỹ Nhà nước); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 30 ngày 28/02/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản”. Bản án số 44 ngày 13/4/1998 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 30 ngày 28/02/1997 buộc chấp hành hình phạt 30 tháng tù giam. Ngày 27/01/2000 Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi lừa đảo tài sản công dân. Bản án số 147 ngày 15/9/2000 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 17 ngày 04/02/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt là 09 năm tù. Ngày 19/6/2015 Công an phường C, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Ngày 25/6/2015 Công an phường C, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi hủy hoại tài sản; bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 4 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 12 tháng 4 năm 2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Trần Thị T1, sinh năm 1977; trú tại: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 01/4/2024, Trần Sỹ T một mình điều khiển xe máy Dream màu trắng đen, biển kiểm soát 18Z3-2215 đi lang thang trên các tuyến phố ở thành phố N với mục đích tìm kiếm sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản. Trước khi đi T chuẩn bị 01 thanh xà cầy bằng kim loại màu xám dài khoảng 35 cm, một đầu dẹp, một đầu nhọn bỏ vào ba lô màu xanh đen để làm công cụ thực hiện hành vi trộm cắp. Khi T đi đến dãy nhà trọ tại địa chỉ 6 đường T, phường M, thành phố N, quan sát thấy dãy trọ có 02 tầng được chia thành nhiều phòng, bên trong dãy trọ không có người, cổng không khóa nên T đã dựng xe máy Dream ở bên ngoài, cách dãy trọ khoảng 03 m, sau đó đi bộ đến mở cổng vào sân của dãy trọ. Thấy cửa phòng trọ số 7 dưới tầng một là phòng của chị Trần Thị T1, sinh năm 1977, trú tại thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định có cài then và khóa ngoài với ổ khóa dạng hình chữ U bằng kim loại sáng màu, móc cài then cửa đã cũ bị rỉ sét, T lấy xà cầy trong ba lô đã chuẩn bị từ trước, dùng hai tay chọc mạnh đầu dẹp vào móc cài then cửa, dùng lực tay kéo xà cầy về phía người thì móc cài then cửa bung ra, then cửa rơi xuống đất, ổ khóa vẫn móc trên then cửa. T cất xà cầy vào ba lô rồi đi vào trong phòng trọ. T phát hiện gần cửa ra vào có dựng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen xám, biển kiểm soát 18D1-521.95 ở sát vách tường bên trái theo hướng nhìn từ phía cửa phòng trọ vào, sau đó T lục lọi tài sản tại tầng một nhưng không phát hiện được thêm tài sản có giá trị nào khác nên T trèo cầu thang lên gác xép, tại đây T trộm cắp được trong túi áo nỉ màu đỏ treo trên tường cạnh cầu thang 01 chùm chìa khóa (Gồm 01 khóa xe máy, 01 khóa thép và 01 khóa điện); 01 đồng hồ đeo tay màu vàng để trong vỏ hộp bánh cạnh ti vi, T đeo luôn đồng hồ vào tay trái của mình. Sau đó, T đi xuống tầng 01 dắt chiếc xe máy biển kiểm soát 18D1-521.95 từ phòng trọ đến khu vực trước cửa số nhà B đường T, phường M, thành phố N. T dựng xe lên, dùng chùm chìa khóa trộm cắp được trong phòng trọ để mở cốp xe máy. Trong cốp xe, T thấy có để 01 ví bằng vải tối màu bên trong có 200.000 đồng và 01 túi đựng quần áo mưa. T nghĩ bên trong túi quần áo mưa không có tài sản nào giá trị nên T không lục lọi và không phát hiện ra số tiền 14.607.000 đồng được chị T1 giấu bên trong. T lấy số tiền 200.000 đồng trong ví rồi bỏ vào túi quần của mình và 01 chiếc kính râm gọng màu vàng ở trên giá để đồ của xe máy. Sau đó T để lại chiếc xe máy Honda Wave RSX biển kiểm soát 18D1-521.95 tại khu vực trước cửa số nhà B đường T, phường M, thành phố N, rồi quay lại dãy trọ lấy chiếc xe máy Dream biển kiểm soát 18Z3-2215 và điều khiển xe về phòng trọ của chị Trần Thị N tại phòng số 374 nhà nghỉ Q, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (Nhài là bạn gái của T). Chiếc đồng hồ và kính râm được T sử dụng, chùm chìa khóa trộm cắp được T cất giấu trong phòng trọ của chị N, còn số tiền 200.000 đồng T đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, chị Trần Thị T1 đã đến Công an phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định để trình báo. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, chị T1 phát hiện ra chiếc xe máy của mình được dựng tại khu vực trước cửa số nhà B đường T, phường M, thành phố N nên đã báo cho cơ quan Điều tra. Sau khi mở rộng hiện trường vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã tiến hành khám nghiệm và thu giữ chiếc xe máy trên. Quá trình kiểm tra các tài sản trong cốp xe máy biển kiểm soát 18D1-521.95 xác định số tiền 14.607.000 đồng chị T1 cất giấu trong túi quần áo mưa vẫn còn, số tiền 200.000 đồng trong chiếc ví ở cốp xe bị mất. Số tiền thu giữ trong cốp xe đã được cơ quan Điều tra niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan Điều tra, Trần Sỹ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chùm chìa khóa (Gồm 03 chìa); 01 đồng hồ đeo tay có mặt tròn, dây kim loại màu vàng; 01 kính râm mắt kính hình bầu dục màu đen, gọng kính màu vàng (Là những tài sản T đã trộm cắp); 01 thanh xà cầy bằng kim loại dài khoảng 35 cm có một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 ba lô màu xanh đen; 01 khẩu trang vải màu đen; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen có sọc kẻ trắng; 01 đôi giầy thể thao màu trắng; 01 áo phông cộc tay, 01 quần bò đều màu đen; 01 xe máy nhãn hiệu Dream màu trắng đen mang biển kiểm soát 18Z3-2215 (Là công cụ, phương tiện T đã sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp). Ngoài ra, Trần Sỹ T còn khai nhận: Vì sợ ở lại phòng trọ lâu sẽ có người phát hiện ra nên T đã dắt chiếc xe máy Honda Wave RSX biển kiểm soát 18D1-521.95 từ phòng trọ đến khu vực trước cửa số nhà B đường T, phường M, thành phố N là khu vực ít người qua lại để T lấy các tài sản có giá trị trong cốp xe máy. Khi kiểm tra cốp xe, T không phát hiện ra số tiền 14.607.000 đồng ở trong túi quần áo mưa. Nếu phát hiện ra thì T sẽ lấy số tiền trên để tiêu xài. Do chỉ đi một mình và chưa có chỗ để tiêu thụ xe máy nên T đã khóa cổ chiếc xe máy trên để lại trước cửa số nhà B đường T, phường M, thành phố N và cầm theo chìa khóa xe.

Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 chiếc xe máy Honda Wave màu đen xám biển kiểm soát 18D1-521.95; 01 chiếc đồng hồ bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc kính màu đen có gọng màu vàng đều đã qua sử dụng, đã thu hồi được vật chứng có tổng giá trị là 10.150.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định dữ liệu điện tử đối với 06 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh khu vực xung quanh hiện trường vụ án. Bản kết luận giám định số 980/KL-KTHS ngày 26/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.

Về vấn đề dân sự: Chị T1 đã được nhận lại chiếc xe máy biển kiểm soát 18D1-521.95 cùng số tiền 14.607.000 đồng, 01 chùm chìa khóa, 01 chiếc đồng hồ bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc kính râm có gọng màu vàng. Đối với số tiền 200.000 đồng mà T đã tiêu xài cá nhân hết và chiếc then cửa cùng ổ khóa T đã làm hư hỏng, chị T1 không yêu cầu T phải bồi thường, khắc phục gì.

Bản Cáo trạng số 154/CT-VKS-TPNĐ ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố Trần Sỹ T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Trần Sỹ T xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Sỹ T theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Sỹ T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Sỹ T từ 03 (Ba) năm tù đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Sỹ T.
  • - Về xử lý vật chứng: 01 thanh xà cầy bằng kim loại dài khoảng 35 cm có một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 ba lô màu xanh đen; 01 khẩu trang vải màu đen; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen có sọc kẻ trắng; 01 đôi giầy màu trắng; 01 áo phông cộc tay mầu đen, 01 quần bò dài màu đen là công cụ bị cáo sử dụng khi đi trộm cắp không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
  • - Buộc bị cáo Trần Sỹ T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Sỹ T không có ý kiến tranh luận; nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Sỹ T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Sỹ T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như đơn trình báo và lời khai của bị hại; sơ đồ hiện trường; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 01/4/2024, tại phòng trọ số 7 của dãy trọ tại địa chỉ 6 đường T, phường M, thành phố N lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, bị cáo Trần Sỹ T có hành vi lén lút thực hiện trộm cắp 01 chiếc đồng hồ bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc kính râm màu đen có gọng màu vàng; 01 chùm chìa khóa; 01 chiếc xe máy Honda Wave màu đen xám biển kiểm soát 18D1-521.95, ở bên trong cốp xe có số tiền 14.607.000 đồng được đựng trong túi quần áo mưa và số tiền 200.000 đồng trong chiếc ví bằng vải tối của chị Trần Thị T1. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp của chị Trần Thị T1 là 24.957.000 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm năm mươi bẩy nghìn đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp của chị Trần Thị T1 là 24.957.000 đồng nhưng bị cáo còn hai tiền án chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo:

  • [3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Sỹ T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu đã nhiều lần bị cơ quan Công an xử lý hành chính và Toà án đưa ra xét xử.
  • [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Sỹ T tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị cơ quan Công an xử lý hành chính và Toà án đưa ra xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trần Thị T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 thanh xà cầy bằng kim loại dài khoảng 35 cm có một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 ba lô màu xanh đen; 01 khẩu trang vải màu đen; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen có sọc kẻ trắng; 01 đôi giầy thể thao màu trắng; 01 áo phông cộc tay, 01 quần bò đều màu đen; 01 biển kiểm soát 18Z3-2215 là công cụ bị cáo sử dụng khi đi trộm cắp không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe máy Dream màu trắng đen (Là phương tiện bị cáo sử dụng đi trộm cắp), cơ quan Điều tra đã giám định có số máy VPJL1P50FMG023697, số khung VPJDCG013PJD23697 không nằm trong dữ liệu xe tang vật đồng thời đã xác định được chiếc xe này là tài sản của chị Trần Thị N1, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú 108 P, phường C, thành phố N cho em gái là chị Trần Thị N mượn. Chị N1 và chị N không biết việc bị cáo mượn xe đi trộm cắp nên cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe này cho chủ sở hữu là chị Trần Thị N1 và không xử lý đối với chị Trần Thị N là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Sỹ T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Sỹ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Sỹ T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2024.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh xà cầy bằng kim loại dài khoảng 35 cm có một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 ba lô màu xanh đen; 01 khẩu trang vải màu đen; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen có sọc kẻ trắng; 01 đôi giầy màu trắng; 01 áo phông cộc tay mầu đen; 01 quần bò dài màu đen; 01 biển kiểm soát 18Z3-2215 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024 tại Chi cục thían dân sự thành phố N, tỉnh Nam Định).

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Sỹ T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

- Căn cứ Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Bị cáo Trần Sỹ T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại là chị Trần Thị T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nguyên

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Sỹ T - điểm g khoản 2 Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger