trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 155/2025/LĐ-ST

Ngày: 26 - 3 - 2025

V/v: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lê Vân – Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;
  2. Ông Huỳnh Văn Thức – Công chức Tư pháp phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 12/2025/TLST- LĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST- LĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ F, thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: 2 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Công ty cổ phần C; địa chỉ: Đại lộ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1994; địa chỉ: TDP Đ, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: A khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Vào năm 2009 bà Nguyễn Thị H có cho bà Vũ Thị L mượn giấy chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần C và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của bà H từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2013 nhưng trên thực tế bà Vũ Thị L là người ký kết hợp đồng và trực tiếp làm việc tại Công ty cổ phần C.

Do bà H có nhu cầu thực hiện các thủ tục rút bảo hiểm xã hội nên có đến liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố T để rút bảo hiểm theo đúng quy định. Sau đó, bà H được Bảo hiểm xã hội thành phố T thông báo thời điểm từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2013 bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty cổ phần C nên Công ty cổ phần C có thực hiện đóng bảo hiểm lao động cho bà H vào thời gian nêu trên.

Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời điểm nêu trên bà H không ký hợp đồng lao động và không làm việc tại Công ty cổ phần C. Do đó, đến nay bà H không thể thực hiện các thủ tục bảo hiểm xã hội theo đúng quy định.

Nhận thấy, việc ký kết hợp đồng lao động giữa bà Vũ Thị L và Công ty cổ phần C là sai quy định, đã vi phạm nguyên tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H được pháp luật bảo vệ. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên Nguyễn Thị H (do bà Vũ Thị L là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty cổ phần C trong khoản thời gian làm từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2013 là vô hiệu toàn bộ. Bà H không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Trong quá trình giải quyết, bị đơn Công ty cổ phần C trình bày: Hiện tại thông tin liên quan đến người lao động Nguyễn Thị H như hồ sơ cá nhân, hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội, bảng lương, hợp đồng lao động giao đoạn 8/2009 đến tháng 5/2013 đã thất lạc do đã đổi nhiều người phụ trách và di dời phòng làm việc. Công ty tin rằng, tại thời điểm tuyển dụng, Công ty đã kiểm tra hồ sơ của người lao động nhưng với hệ thống thông tin tại thời điểm đó, Công ty không thể phát hiện người lao động đã gian lận hồ sơ, cố ý mượn hồ sơ của người khác để nộp và làm việc tại Công ty. Do tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty đang trong mùa cao điểm nên không thể sắp xếp thời gian tham gia giải quyết tranh chấp tại Toà án nên đề nghị được vắng mặt.

- Trong quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị L trình bày:

Vào năm 2009, bà L có mượn giấy chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị H để ký hợp đồng lao động đối với Công ty cổ phần C. Trong quá trình làm việc tại Công ty cổ phần C thì Công ty có tham gia đóng bảo hiểm cho bà L từ tháng 8/2009 đến tháng 5 năm 2013 với tên Nguyễn Thị H. Thực tế bản thân bà L có đi làm việc tại Công ty cổ phần C và tham gia đóng bảo hiểm xã hội đúng theo quy định. Trước yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà L đồng ý. Bà L đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; căn cước công dân số [...] đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp với các mã số bảo hiểm xã hội 7412260330, 7012006130, 7409098214 và 9107219860. Cụ thể như sau:

Đối với mã số bảo hiểm xã hội 7412260330 tham gia từ 9/2012 đến tháng 5/2019 đã được VP Bảo hiểm xã hội tỉnh B xác nhận chốt sổ, chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần và đã nhận bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với mã số bảo hiểm xã hội 7012006130 tham gia từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2012 đã được Bảo hiểm xã hội thị xã C, tỉnh Bình Phước xác nhận chốt sổ, chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần và chưa nhận bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với mã số bảo hiểm xã hội 7409098214 tham gia từ tháng 8/2009 đến tháng 5/2013 chưa được Bảo hiểm xã hội thành phố T xác nhận chốt sổ, chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần và chưa nhận bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với mã số bảo hiểm xã hội 9107219860 tham gia từ tháng 10/2007 đến tháng 10/2009 đã được Bảo hiểm xã hội thành phố T xác nhận chốt sổ, chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần và chưa nhận bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn Công ty cổ phần C về việc tranh chấp hợp đồng lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên Nguyễn Thị H (do bà Vũ Thị L là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty cổ phần C trong khoản thời gian làm từ tháng 8/2009 đến tháng 5 năm 2013 là vô hiệu toàn bộ và bị đơn Công ty cổ phần C có địa chỉ trụ sở tại Đại lộ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 32; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 50 của Bộ luật Lao động.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn Công ty cổ phần C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị L và Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[1.3]. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu; đồng thời các đương sự trong vụ án cũng không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị H, bà Vũ Thị L thống nhất nội dung: Bà H cho bà L mượn giấy tờ tùy thân của bà H để xác lập hợp đồng lao động đối với Công ty cổ phần C và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2013 tại Công ty cổ phần C theo mã số Bảo hiểm xã hội 7409098214.

[2.2]. Tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 quy định: Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những Điều đã cam kết.

Đồng thời, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 quy định: Hợp đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động.

Theo Điều 17 và Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012 (khoản 1 Điều 15 và Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019) quy định khi giao kết hợp đồng lao động phải trên nguyên tắc: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực và người lao động có nghĩa vụ: Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.

Mặt khác, theo Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ khi người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động.

[2.3]. Thực tế người lao động ký kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần C từ tháng 8/2009 đến tháng 5/2013, làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7409098214 là bà Vũ Thị L, không phải bà Nguyễn Thị H. Việc bà L mượn giấy tờ tùy thân của bà H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần C là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H là có cơ sở chấp nhận.

[2.4]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn Công ty cổ phần C về việc tranh chấp hợp đồng lao động.

[2.5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.

[2.6] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu tiền án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 9 và 30 Bộ luật Lao động năm 1994;
  • Các Điều 17, 19, 50, 51, 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (các Điều 15, 16, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019);
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn Công ty cổ phần C.

- Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty cổ phần C trong thời gian từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2013 bị vô hiệu toàn bộ.

- Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị H theo quy định pháp luật.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu 300.000 đồng tiền án phí lao động sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000598 ngày 07/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/LĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về hợp đồng lao động

  • Số bản án: 155/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn thị h - công ty cổ phần C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger