Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Giới

Bà Lê Thu Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký viên, Tòa án nhân dân thành

phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2025/TLST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Mạnh Q (tên gọi khác: không); sinh ngày 22 tháng 9 năm 1975, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu D, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị H; có vợ là Vũ Thị N1; có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 28/4/2025 đến ngày 03/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Thị M (tên gọi khác: không); sinh ngày 02 tháng 11 năm 1979, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu D, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Dương Thị C; có chồng là Nguyễn Văn T; có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 28/4/2025 đến ngày 03/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q nhận được đơn tố giác nặc danh đối với Hoàng Mạnh Q có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề với người khác trên địa bàn phường B gây mất an ninh trật tự. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã xác minh, triệu tập Hoàng Mạnh Q đến làm việc, tại đây Q đầu thú và khai nhận hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán số lô, số đề, số ba càng với Nguyễn Thị M và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, gắn sim số 0904.262.735 của Q. Ngày 27/4/2025, Nguyễn Thị M đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số lô, số đề, ba càng với Q; M cũng tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim 0938.955.826 của M.

Quá trình điều tra, Hoàng Mạnh Q và Nguyễn Thị M khai nhận: Q và M là bạn quen biết với nhau từ trước. Sáng ngày 11/4/2024, Q và M đi uống nước với nhau, lúc này M nảy sinh ý định đánh bạc trái phép được thu bằng tiền dưới hình thức chơi số lô, số đề, ba càng nhưng không biết chỗ chơi nên M hỏi Q có biết chỗ chơi số lô, số đề, ba càng thì mua số lô, số đề, ba càng giúp M. Quyết trả lời có biết và đồng ý mua số lô, số đề, ba càng giúp M và không cần trả công. Q và M thống nhất, cách thức đánh bạc như sau: trước giờ mở thưởng của xổ số kiến thiết Miền B, M sẽ sử dụng tài khoản zalo “Mai Tây” đăng ký bằng số điện thoại 0938.955.xxx trên điện thoại di động Iphone 8 plus của M để nhắn các số lô, số đề, số ba càng đến số tài khoản zalo “Hoàng Quyết” đăng ký số điện thoại 0904.262.xxx trên điện thoại di động Iphone X của Q để nhờ Quyết ghi hộ các số lô, số đề, số ba càng. Về số tiền đánh bạc M và Q thỏa thuận như sau: đối với số đề, trước khi mở thưởng người chơi đặt cược một số tiền nhất định vào một hoặc nhiều số từ 00 đến 99. Nếu số người chơi đặt cược trùng với hai số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì người chơi thắng bạc; số tiền thắng bằng 70 lần số tiền người chơi đặt cược. Ngược lại thì người chơi thua bạc và thua hết số tiền đã đặt cược. Đối với số ba càng, trước khi mở thưởng, người chơi đặt cược một số tiền nhất định vào một hoặc nhiều số từ 000 đến 999. Nếu số người chơi đặt cược trùng với ba số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì người chơi thắng tiền; số tiền thắng bằng 400 lần số tiền người chơi đặt cược. Ngược lại thì người chơi thua bạc và thua hết số tiền đã đặt cược. Đối với số lô thường, trước khi mở thưởng, người chơi đặt cược một số tiền nhất định vào một hoặc nhiều số từ 00 đến 99. Nếu số người chơi đặt cược trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào trong kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thi người chơi thắng bạc; số tiền thắng với mỗi điểm đặt cược tương đương 80.000 đồng. Ngược lại thì người chơi thua bạc và thua hết số tiền đã đặt cược. Tuy nhiên, sau khi nhận tin nhắn của M nhờ mua các số lô, số đề, ba càng thì Q không chuyển cho ai khác mà tự ôm, đến cuối ngày có kết quả mở thưởng sẽ tự thanh toán thắng thua với M để hưởng lợi. Từ ngày 11/4/2024 đến ngày 13/4/2024, Nguyễn Thị M đã 03 lần sử dụng tài khoản zalo “Mai Tây” của M để nhắn các số lô, số đề, số ba càng đến tài

khoản zalo “Hoàng Quyết” của Q để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề, ba càng, cụ thể:

  • - Ngày 11/4/2024, M nhắn tin cho Q để đánh 900.000 đồng tiền số đề, gồm: 72, 27, 68, 86, 03, 07 mỗi số 100.000 đồng; số 55 là 200.000 đồng; số 18, 81 mỗi số 50.000 đồng. Đánh 3.080.000 đồng tiền số lô, gồm: 27, 72, 25, 52, 47, 02, 20, 07, 70, 03, 30, 68, 86, 52 mỗi số 10 điểm; cả tiền mua số đề và số lô của M là 3.980.000 đồng. Kết quả, M thắng 30 điểm 02 số lô 52, 86 với số tiền 2.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 6.380.000 đồng. M và Q đã thanh toán cho nhau bằng tiền mặt; M thua 1.580.000 đồng.
  • - Ngày 12/4/2024, M nhắn tin cho Q để đánh 250.000 đồng tiền số đề gồm: 80 là 100.000 đồng; 30, 84, 75 mỗi số 50.000 đồng, kết quả không trúng. Tổng số tiền đánh bạc là 250.000 đồng. M đã thanh toán bằng tiền mặt cho Q.
  • - Ngày 13/4/2024, M nhắn tin cho Q để đánh 100.000 đồng tiền số ba càng gồm: 910, 901 mỗi số 50.000 đồng và 440.000 đồng tiền số lô gồm: 01, 10 mỗi số 10 điểm. Cả tiền mua số ba càng, số lô của M là 540.000 đồng. Kết quả, M thắng 10 điểm số lô 10 là 800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.340.000 đồng. M và Q đã thanh toán cho nhau bằng tiền mặt; M thắng 260.000 đồng.

Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của Hoàng Mạnh Q phát hiện các tin nhắn trên ứng dụng Zalo của Q đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi số lô, số đề, ba càng với M như nêu trên. Sau khi cơ quan điều tra cho M xem đều xác nhận là các tin nhắn của mình với Q để chơi số lô, số đề. Kiểm tra điện thoại thu giữ của M không phát hiện các nội dụng liên quan đến hoạt động đánh bạc. Đối với điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị M: về các tin nhắn của M trên ứng dụng Zalo gửi cho Q, M khai đã xóa đi khi Cơ quan điều tra phát hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số lô, số đề, ba càng.

Như vậy, có căn cứ xác định:

  • - Ngày 11/4/2024, số tiền đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề của Nguyễn Thị M và Hoàng Mạnh Q là 6.380.000 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng). Q thu lợi số tiền 1.580.000 đồng (một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
  • - Ngày 12 và 13/4/2024, số tiền đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề, ba càng của Nguyễn Thị M và Hoàng Mạnh Q lần lượt là 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) và 1.340.000 đồng (một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng), đều dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, do lần đánh bạc ngày 12 và 13/4/2025 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Với nội dung trên Cáo trạng số: 3386/CT-VKSHL ngày 10/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Hoàng Mạnh Q và Nguyễn Thị M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt Hoàng Mạnh Q từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị M từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại thu giữ của Hoàng Mạnh Q và Nguyễn Thị M công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 02 sim điện thoại thu kèm theo điện thoại của 02 bị cáo do không còn giá trị sử dụng.
    • - Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.580.000đ (một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Q do phạm tội mà có.
  • Các bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, các bị cáo rất hối hận với hành vi vi phạm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và khẳng định việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản khám xét, các biên bản nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

    Ngày 11/4/2024, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Mạnh Q và Nguyễn Thị M có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi số lô, số đề với số tiền là 6.380.000 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng). Q thu lợi số tiền 1.580.000 đồng (một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội; quan điểm luận tội cũng như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

  1. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Mặt khác, hành vi phạm tội của các bị cáo còn là một trong các nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống, hạnh phúc của nhiều người, nhiều gia đình. Vì vậy, cần đưa ra xét xử nghiêm minh, nhằm giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.
  2. [4] Về vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

    Về vai trò của các bị cáo: các bị cáo thực hiện vi phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, thực hiện hành vi một cách bột phát, không có sự bàn bạc và cấu kết chặt chẽ với nhau, bị cáo Q là người nhận đánh bạc (chủ đề), còn bị cáo M là người đánh bạc nên xác định Q có vai trò cao hơn M.

    Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo Q và bị cáo M đã ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Q, quá trình điều tra chủ động khai ra hành vi phạm tội của bị cáo M giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo M nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  3. [5] Về hình phạt:

    Về hình phạt chính: xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

    Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội do bột phát, số tiền đánh bạc không lớn, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà xem xét cho các

bị cáo được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răng đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích.

Về hình phạt bổ sung: đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

  1. [6] Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

    • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 8 Plus), màu đỏ, bị vỡ phía sau điện thoại góc trên cùng bên trái, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị M.
    • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu đen, bị vỡ phía sau điện thoại góc trên cùng bên trái, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Mạnh Q.

    Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

    Tịch thu tiêu hủy: 02 sim điện thoại thu kèm theo điện thoại của 02 bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

    Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Q phải nộp lại số tiền 1.580.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

  2. [7] Về các biện pháp ngăn chặn: theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được tuyên hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử hủy bỏ các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và các quyết định tạm hoãn xuất cảnh đang áp dụng đối với các bị cáo.
  3. [8] Về án phí: mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  4. [9] Đối với hành vi 02 lần đánh bạc của Nguyễn Thị M và Hoàng Mạnh Q, do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    • - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt: bị cáo Hoàng Mạnh Q 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
    • - Căn cứ: khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị M 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), sung ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
  2. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1072/LC-CSHS, số 1073/LC-CSHS ngày 03/5/2025 và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 3551/QĐ-CSHS, số 3552/QĐ-CSHS ngày 03/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đối với các bị cáo Hoàng Mạnh Q, Nguyễn Thị M.
  3. Về vật chứng: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
      • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 8 Plus), màu đỏ, bị vỡ phía sau điện thoại góc trên cùng bên trái, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị M.
      • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu đen, bị vỡ phía sau điện thoại góc trên cùng bên trái, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Mạnh Q.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 02 sim điện thoại thu kèm theo điện thoại của 02 bị cáo.
    • - Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Q nộp lại số tiền 1.580.000 đồng (một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

    (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 196/BB-THA ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

  4. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Hoàng Mạnh Q và Nguyễn Thị M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục THADS thành phố Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh (PV06);
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh (PC10);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc

  • Số bản án: 155/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Mạnh Q và Nguyễn Thị M bị truy tố tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger