|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2025/HS-ST Ngày: 16-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Khánh Hưng – Nguyên Phó Bí thư Quận đoàn Gò Vấp.
- Ông Đặng Công Trí – Giáo viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Gò Vấp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 271/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 các bị cáo:
- Cao Văn N, sinh năm: 2001, tại: Đắk Lắk; hộ khẩu thường trú: Thôn I, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Thổ; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà: Cao Thị P; Chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày: 30/8/2024; (Có mặt).
- Lê Minh T, sinh ngày 02/6/2006, tại: Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Số B ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Minh T1 và bà: Nguyễn Thị N1; Chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày: 30/8/2024; (Có mặt).
- Châu Lương S, sinh năm 2000, tại: Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: Tổ H, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Châu Ngọc T2 và bà: Lương Thị Đ; Chưa có vợ con; nhân thân: Ngày 28/9/2018, Toà án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã đóng án phí; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày: 30/8/2024 (Có mặt).
- Trần Văn T3, sinh ngày 21/12/2007, tại: Đắk Lắk; hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T4 và bà: Võ Thị Minh N2; Chưa có vợ con; nhân thân: Ngày 23/12/2024, Toà án nhân dân huyện Bôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày: 30/8/2024; (Có mặt).
- Trần Văn T5, sinh năm 2001, tại: Đắk Lắk; hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà: Trần Thị H; Chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2024 đến ngày 08/9/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại; (Có mặt).
Đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn T3: Bà Võ Thị Minh N2, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; là mẹ ruột của bị cáo; (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T3: Ông Trần Kim H1, sinh năm: 1983 và ông Lê Văn B, sinh năm 1981, là Luật sư thuộc Công ty L1 và Cộng sự; (Ông B có mặt, ông H1 có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Văn N và Lý Gia H2 (Sinh ngày 29/6/2010) cùng làm nhân viên quán B1, địa chỉ: số G đường P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm chung, cả hai nảy sinh mâu thuẫn do H2 cho N mượn tiền nhưng N không trả và còn dọa đánh H2 nên H2 nói cho anh ruột là Lý Gia L (sinh ngày 07/7/2009) biết. Khoảng 21 giờ ngày 25/8/2024, L cùng Trần Văn P1 (Sinh ngày 29/3/2009) đến quán B1. Nguyên thấy nhóm L đến và có ý định đánh N nên N nhắn tin cho Trần Văn T5 và Lê Minh T kêu đến đánh lại nhóm L thì được T5 và T đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày 25/8/2024, tại khu vực quầy thu ngân quán B1, N trả tiền cho H2 và chửi H2 thì H2 dùng chai nước suối và ghế nhựa ném vào người N. Cùng lúc, L xông vào dùng tay không đánh N nên N dùng ghế nhựa ném lại và dùng tay không đánh lại. Sự việc được ông Nguyễn Thái D (quản lý quán) can ngăn nên H2, L, P1, Nguyễn Trung V (sinh ngày 19/3/2009) và P2 (không rõ lai lịch) đi ra quán nước sinh tố ở số G đường P ngồi. Nguyên nhắn tin cho T5 báo "tao bị đánh rồi" và kêu T, T5 đến đánh lại nhóm H2 và sẽ trả tiền xe ôm nên T5 và T rủ thêm Châu Lương S cùng đi đánh nhau, do có quen biết N nên khi nghe sự việc S đồng ý. Khoảng 30 phút sau, T5, T và S đến quán B1, khi đi T mang theo 02 con dao (có cán bằng gỗ dài khoảng 13 cm, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 8 cm) cất giấu trong người và không nói ai biết. Khi nhóm của T5 đến nơi, N mở cửa quán tìm nhóm của H2 nhưng không thấy nên N kêu T5, T, S đi uống nước, khi ngang qua số 733 đường P, N thấy nhóm người H2. N nói: "tụi nó trong quán nước kìa". Thấy nhóm của N đi vào, H2 đứng dậy đi vào quầy tủ quán sinh tố, nơi có để thớt và cây dao cắt trái cây đứng đợi sẵn, nếu có đánh nhau thì lấy dao đánh lại. Vừa vào quán nước, S và N dùng chân đạp vào người L nhưng chỉ có S đạp trúng, S dùng tay đánh vào đầu, mặt của L. Lúc này, H2 chụp lấy con dao (cán bằng gỗ dài khoảng 10 cm, lưỡi dao dài 30 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 6 cm) của quán sinh tố chém nhiều nhát về hướng của T5 nhưng không trúng. P1 dùng ghế xếp bằng kim loại tại quán nước đánh lại nhóm của N. L chụp lấy cái ghế xếp chống trả thì bị ngã ra ngoài quán nơi T đang đứng thì T lấy trong người ra 02 con dao ra, tay phải cầm dao hướng mặt lưng con dao chém trúng vào đầu và vai của L gây xây xát da bên ngoài, S chụp dao của T định chém H2 nhưng H2 bỏ chạy nên T, S, N và T5 chạy đuổi theo nhóm H2 đến quán "Ốc Hiền", do chủ quán không cho S và T vào quán nên cả nhóm quay lại quán nước. P1 và P2 bỏ chạy về quán B1 gặp Trần Văn T3. Tại đây, biết nhóm của H2 bị đánh nên T3 vào kho lấy 03 cây kim loại bằng I, T3 đưa cho P1 một cây, T3 cầm hai cây chạy xuống dưới sân quán đưa cho P2 một cây rồi cả ba chạy bộ, kéo rê cây sắt dưới đường, đuổi theo nhóm của N để đánh lại thì nhóm của N bỏ chạy. Tính vào quán B1 (không rõ biển số) chở P1 và P2 đi tìm nhóm N, chạy được khoảng 200m không gặp được nhóm N nên T3 quay về lại quán. Nhận được tin báo, Công an P3 tiến hành truy xét, thu giữ vật chứng và chuyển vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G điều tra làm rõ.
Ngày 28/8/2024, Ủy ban nhân dân Phường G, quận G có Công văn số 897/UBND trả lời vụ việc trên gây mất trật tự công cộng tại địa phương. Để đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương, Ủy ban nhân dân Phường G, quận G đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G tiếp tục làm rõ và xử lý các đối tượng có liên quan trong vụ việc trên theo đúng quy định pháp luật.
Vật chứng thu giữ:
- 02 con dao cán bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 45 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 8 cm do Lê Minh T giao nộp.
- 01 con dao cán bằng gỗ dài khoảng 10 cm, lưỡi dao dài 30 cm do Lý Gia H2 giao nộp.
- 01 thanh kim loại tròn dài 1,4m, đường kính 1,5cm; 01 thanh kim loại tròn dài 1,8m, đường kính 1cm; 01 thanh kim loại vuông dài 1,9m, cạnh dài 1 cm do Trần Văn T3 giao nộp.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi 8A thu giữ của Cao Văn N; 01 điện thoại Iphone 6 thu giữ của Trần Văn T3; 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Trần Văn T5.
- 01 USB bên trong lưu trữ 03 đoạn clip ghi lại hình ảnh vụ việc tại quán B1.
Toàn bộ số vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 176/PNK ngày 01/4/2025.
Lý Gia H2, Lý Gia L, Trần Văn P1 có hành vi gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi trên, do H2, L, P1 chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an P3, quận G đề nghị xử lý theo quy định. Đối với Nguyễn Trung V chưa đủ 16 tuổi, có mặt nhưng không tham gia đánh nhau nên không có cơ sở xử lý.
Tại bản cáo trạng số 157/CT-VKS-QGV, ngày 31/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Cao Văn N, Lê Minh T, Châu Lương S và Trần Văn T3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Văn T5 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Cao Văn N từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Châu Lương S từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 7 (bảy) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, buộc bị cáo Trần Văn T3 chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là từ 02 năm 01 tháng đến 02 năm 7 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T5 từ 6 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt chấp hành án.
Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
- Tịch thu và tiêu huỷ: 02 con dao, loại dao dùng chặt dừa có cán bằng gỗ dài khoảng 13 cm, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 8 cm; 01 con dao loại dao cắt trái cây có cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi dao dài 20 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 6 cm; 03 thanh kim loại bằng Inox rỗng: 01 cây dài khoảng 1,4m, đường kính 1,5 cm; 01 cây dài 1,8m, đường kính 1cm; 01 cây dài vuông 1,9m, cạnh dài 1 cm.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi 8A của Cao Văn N.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn T3 01 điện thoại Iphone 6.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Trần Văn T5.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB bên trong lưu trữ 03 đoạn clip ghi lại hình ảnh vụ việc tại quán B1,
Luật sư bào chữa cho bị cáo T3: Về tội danh và điều luật áp dụng thống nhất với quan điểm của Viện Kiểm sát. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức về xã hội và pháp luật còn rất hạn chế, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, cần thiết áp dụng các tình tiết quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; xem xét hoàn cảnh nhân thân, hoàn cảnh gia đình cùng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể, là đồng phạm giản đơn do không có bàn bạc, phân công cụ thể vai trò, không hứa hẹn hay chuẩn bị trước khi thực hiện và một lần nữa xin Quý Tòa hãy mở lượng khoan hồng, mở cho bị cáo một con đường sửa chữa lỗi lầm để sớm được quay về học tập và lao động phụ giúp gia đình.
Kiểm sát viên: Đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, không tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Luật sư Trần Kim H1, là người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T3 có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bài bào chữa cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T3 và đại diện hợp pháp cho bị cáo là bà N2 đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Luật sư Hoàng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo theo quy định tại Điều 291 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của các bị cáo, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra, bản cáo trạng và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào ngày 25/8/2024, tại đường P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Cao Văn N có hành vi rủ rê Trần Văn T5, Lê Minh T, Châu Lương S sử dụng hung khí, vũ khí như dao, bàn ghế đánh nhau và rượt đuổi nhóm người của Lý Gia L, Lý Gia H2, Trần Văn P1 và P2 (không rõ lai lịch); bị cáo Trần Văn T3 đã có hành vi cầm cây inox, điều khiển xe mô tô rượt đuổi lại nhóm người của Châu Lương S gây mất trật tự, ảnh hưởng đến trật tự chung ở nơi công cộng, gây hoang mang lo sợ cho người dân xung quanh. Ngày 28/8/2024, Ủy ban nhân dân Phường G1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 897/UBND xác định hành vi của các bị cáo nêu trên đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương và gây dư luận xấu, tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại Phường G. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do các bị cáo N, T, S, T3 đã hành vi sử dụng hung khí, vũ khí như dao, bàn ghế, cây inox ...để thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp định khung “Dùng vũ khí, hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi của bị cáo Trần Văn T5 mặc dù đi cùng nhóm với các bị cáo N, S, T nhưng không có hành vi sử dụng hung khí, chỉ tham gia rượt đuổi nhóm của H2, L nên hành vi của bị cáo T5 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 157/CT-VKS-QGV, ngày 31/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với nhóm N, T, S, T3 thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo nhất thời cùng nảy sinh ý định rủ nhau thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của mình.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, giữa nơi công cộng các bị cáo đã thực hiện hành vi phá phách, đánh nhau, gây mất trật tự, ảnh hưởng đến trật tự chung, gây hoang mang, lo sợ cho người dân xung quanh. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi đông người; vi phạm quy tắc, nếp sống văn minh, cản trở hoạt động lành mạnh và bình thường của những người khác ở nơi công cộng; gây mất trật tự trị an xã hội, tác động xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tội ra ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Các bị cáo Cao Văn N, Lê Minh T phạm tội lần đầu. Bị cáo Trần Văn T5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Bị cáo Trần Văn T3 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, ở độ tuổi này sự phát triển về nhận thức xã hội và pháp luật của bị cáo còn hạn chế nên cần xem xét cho bị cáo khi lượng hình. Cần thiết áp dụng Điều 90, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho các bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời. cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với bị cáo Trần Văn T3: tại thời điểm xét xử vụ án này, bị cáo đang chấp hành Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Toà án nhân dân Toà án nhân dân huyện Bôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk đã có hiệu lực pháp luật và vụ án này xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Bôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk nên cần thiết tổng hợp hình phạt của hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56, Điều 104 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 con dao, loại dao dùng chặt dừa có cán bằng gỗ dài khoảng 13 cm, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 8 cm; 01 con dao loại dao cắt trái cây có cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi dao dài 20 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 6 cm; 03 thanh kim loại bằng Inox rỗng: 01 cây dài khoảng 1,4m, đường kính 1,5 cm; 01 cây dài 1,8m, đường kính 1cm; 01 cây dài vuông 1,9m, cạnh dài 1 cm là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu huỷ.
- Đối 01 điện thoại Iphone 6 thu giữ của Trần Văn T3, Hội đồng xét xử xét thấy là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên quyết định trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Trần Văn T5 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 8A thu giữ của Cao Văn N các bị cáo sử dụng để liên lạc rủ đi gây rối trật tự công cộng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 USB bên trong lưu trữ 03 đoạn clip ghi lại hình ảnh vụ việc tại quán B1 chứa video thể hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án.
[6] Vấn đề khác:
- Đối với các đối tượng tên Lý Gia H2, Lý Gia L, Trần Văn P1 khi thực hiện hành vi phạm tội dưới 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao hồ sơ cho Công an P3, quận G xử lý theo thẩm quyền là có cơ sở.
- Đối với Nguyễn Trung V chưa đủ 16 tuổi, có mặt nhưng không tham gia đánh nhau nên không có cơ sở xử lý là có cơ sở.
- Đối với đối tượng tên P2 (chưa rõ lai lịch) chưa xác định được nhân thân, lại lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại điện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo điểm o khoản 1 Điều 73, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Lời bào chữa của Luật sư có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Cao Văn N;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Minh T;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Châu Lương S;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn T3;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn T5;
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ điểm o khoản 1 Điều 73; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn N, Lê Minh T, Châu Lương S, Trần Văn T3, Trần Văn T5 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng".
[2] Về hình phạt
[2.1] Xử phạt bị cáo Cao Văn N 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2024.
[2.2] Xử phạt bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2024.
[2.3] Xử phạt bị cáo Châu Lương S 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2024.
[2.4] Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 7 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Bôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo Trần Văn T3 chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2024.
[2.5] Xử phạt bị cáo Trần Văn T5 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/8/2024 đến ngày 08/9/2024.
[3] Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu và tiêu huỷ: 02 con dao, loại dao dùng chặt dừa có cán bằng gỗ dài khoảng 13 cm, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 8 cm; 01 con dao loại dao cắt trái cây có cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi dao dài 20 cm, bản rộng nhất của lưỡi khoảng 6 cm; 03 thanh kim loại bằng Inox rỗng: 01 cây dài khoảng 1,4m, đường kính 1,5 cm; 01 cây dài 1,8m, đường kính 1cm; 01 cây dài vuông 1,9m, cạnh dài 1 cm.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn T3 01 điện thoại Iphone 6.
- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone SX và 01 điện thoại di động hiệu Redmi.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB bên trong lưu trữ 03 đoạn clip ghi lại hình ảnh vụ việc tại quán B1 chứa video thể hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 176/PNK ngày 01/4/2025 của Công an quận G).
[4] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại điện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
[6] Nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 155/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 155/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Văn N và đồng phạm- tội gây rối trật tự công cộng - 318
