|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2025/HS-ST Ngày: 06 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Xuân Văn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Thúy |
| Bà Dương Thị Lý Anh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 825/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thế A, sinh năm 1990, tại: Nam Định; giới tính: Nam; nơi thường trú: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi ở: Tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị S; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt)
- Nguyễn Mạnh B, sinh năm 1978, tại Hà Nội; giới tính: Nam; nơi cư trú: Đội 5; thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Như H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ và 04 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt)
- Bùi Thị Linh C1, sinh năm 2002, tại Hòa Bình; giới tính: Nữ; nơi ĐKTT: Khu X, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình; nơi ở: Tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Văn T và bà Quách Thị A1; có chồng và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B và Bùi Thị Linh C1: Luật sư Nguyễn Văn H2 và Lương Thị Hồng N - Công ty L2; Đoàn luật sư thành phố H. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Linh C1: Ông Nghiêm Đức H3; chức danh: Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước thành phố H (Chi nhánh số 06). (Có mặt)
Nguyên đơn dân sự: Chị Thào Thị C2, sinh ngày 08/9/2005, HKTT: Thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Hà Giang. (Đã chết)
Người đại diện cho chị Thào Thị C2: Ông Thào Mí S1, sinh năm 1977; trú tại: Xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (Bố đẻ) và bà Vàng Thị T1, sinh năm 1967; trú tại: Thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Hà Giang (Mẹ đẻ). (Vắng mặt)
Ủy quyền cho: Anh Thào Mí S1, sinh năm 1988; trú tại: Thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Hà Giang. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1976; trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Anh Hoàng Văn C3, sinh năm 1986; trú tại: Đ, thôn C, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1996; HKTT: Thôn T, xã X, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ở: Số A ngách F ngõ D T, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Hoài P, sinh năm 1983; trú tại: Tiểu khu P, thị trấn P, thành phố Hà Nội. (Chị bị cáo Nguyễn Thế A - có mặt)
- Chị Phạm Thị Huyền N1, sinh năm 1992; trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vợ bị cáo Nguyễn Mạnh B - có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Hồi 4 giờ 52 phút ngày 21/11/2023 Công an xã P, huyện P, TP Hà Nội nhận được tin báo của anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1976, HKTT thôn Đ, xã P, huyện P, TP Hà Nội là chủ cơ sở kinh doanh Karaoke Bình Minh N, địa chỉ tại thôn P, xã P, P, Hà Nội về việc: tại quán có nhân viên tên X (tên thật là Thào Thị C2, sinh năm: 2005, HKTT thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Hà Giang) đang làm việc rót bia tiếp khách hát tại quán, do lén lút sử dụng ma túy nên dẫn đến tình trạng sức khỏe suy kiệt, hiện đang đi cấp cứu.
Sau khi nhận được tin báo của anh D, Công an xã P đã báo với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đến cơ sở kinh doanh để phối hợp kiểm tra, xác minh. Thời điểm kiểm tra phát hiện trong phòng 3 của quán có 2 nam thanh niên đang nghe nhạc công suất lớn nghi vấn có sử dụng trái phép chất ma túy là Nguyễn Thế A và Nguyễn Mạnh B. Tại chỗ, Thế A, B đều khai nhận vừa sử dụng ma túy dạng kẹo tại phòng 3 của quán K cùng 02 nhân viên nữ là Bùi Thị Linh C1 và Thào Thị C2 dẫn đến việc C2 có nhiều biểu hiện bất thường, tình trạng sức khỏe suy kiệt nên được đưa đi cấp cứu tại trạm y tế xã P, sau đó được đưa lên Bệnh viện Đ cấp cứu nhưng C2 đã tử vong trước khi nhập viện. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc.
Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường tại cơ sở kinh doanh karaoke Bình Minh N, thu giữ:
1. Tại quán K:
- + 04 cốc nhựa có quai (12x7)cm đã qua sử dụng; 01 cốc nhựa có quai (12x7)cm bên trong dính chất bột màu trắng;
- + 01 đôi dép nhựa màu đen (Trên ghế sô – pha phòng số 3);
- + 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng (Thu giữ tại vị trí dưới đất giữa khe ghế cạnh cửa bên trái của phòng số 3);
- + 01 đầu thu, 01 đầu mắt Camera:
2. Thu giữ của Thế A: 01 điện thoại Iphone màu tím; 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai BKS: 30G – 68480;
3. Thu giữ của B: 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng;
4. Thu giữ của C1: 01 điện thoại Iphone màu xanh đã qua sử dụng;
5. Thu giữ của C3 và T2 mỗi người 01 điện thoại Iphone màu vàng.
6. Chủ quán Nguyễn Văn D tự giao nộp: 01 USB bên trong chứa hình ảnh quán K.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Mạnh B và Nguyễn Thế A không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Kết luận giám định số 7784/KL-LTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K1 (PC09) - Công an thành phố H kết luận: 04 chiếc cốc nhựa có quai đều có kích thước cao 12cm, đường kính 7cm đều không dính chất ma túy. 01 cốc nhựa có quai kích thước cao 12cm, đường kính 7cm có dính loại ma túy MDMA và loại ma túy Ketamine.
Kết luận giám định số 7854/KL-LTHS ngày 01/12/2023 của Phòng K1 (PC09) - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong có ma túy loại MDMA và loại ma túy Ketamine, khối lượng: 0,008gam.
Kết luận giám định tử thi số 8683/KLGĐTT-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 (PC09) - Công an thành phố H kết luận: Nguyên nhân chết của Thào Thị C2 do: “Suy tuần hoàn và hô hấp trên người sử dụng các chất ma túy MDA, MDMA.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy: Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B dương tính với MDMA, Methamphetamine. Bùi Thị Linh C1 dương tính với MDMA.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B, Bùi Linh C1 khai phù hợp nhau, cụ thể: Khoảng 21h ngày 20/11/2023 Thế A, B cùng bạn đi vào quán K tại xã H để hát Karaoke. Tại quán, Thế A ngồi với C1, B ngồi với X (tên thật là Thào Thị C2). Trong quá trình hát Thế A rủ C1 sử dụng ma tuý, C1 đồng ý. Thế A ra hỏi mua ma tuý nhưng quán không bán nên không sử dụng được. Đến khoảng 00h thì cả nhóm đi về. Chi và C2 về quán K để nghỉ. Thế A và B về quán B2 tại tiểu khu P, thị trấn P chơi. Tại đây, Thế A sử dụng zalo nhắn tin cho C1 rủ ra ngoài chơi nhưng C1 không đồng ý vì đang trong giờ làm việc. Thế A hỏi C1 nếu mang ma tuý vào quán trong đó chơi được không? Chi trả lời “quán không cho chơi nhưng nếu chơi trộm “kẹo” để nghe nhạc thì được”. Thế A nói để anh mua mấy viên “Kẹo” vào chơi. Chi hiểu ý Thế A2 là mua ma túy đến quán sử dụng và đồng ý. Đến khoảng 2h30 phút Chi cho Thế A2 số của C3 là quản lý quán để đặt phòng nhưng số Chức thuê bao nên C1 đã nhắn tin zalo cho C3 để đặt một phòng hát, C3 đồng ý. Thế A2 trao đổi với B, mua mấy viên “Kẹo” vào quán K chơi. B hiểu là đến quán K sử dụng ma túy kẹo, B đồng ý. Sau khi Thế A2 xin được số của C3 từ C1, đưa cho B để gọi điện đặt phòng hát. Mục đích B đặt phòng hát là để sử dụng ma túy kẹo và nghe nhạc.
Sau đó, Thế A2 sử dụng Telegam nhắn tin cho tài khoản tên “T2 bóng cười” hỏi mua 04 viên ma tuý, giá 300.000 đồng/ 01 viên, hẹn giao tại trước cửa siêu thị L3. Thế A2 thanh toán tiền mua ma túy 1.200.000 đồng bằng tiền mặt. Khoảng 2h53 phút ngày 21/11/2023 Thế A2 nhận cuộc gọi từ số 0987756542 gọi giao ma túy. Thế A2 sử dụng xe ô tô BKS: 30G – 68480 chở B đến khu vực cột điện trước cổng siêu thị L3, Thế A2 xuống xe nhặt ở chân cột điện một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có một túi nilon đựng 04 viên nén. Khi lên xe, T3 anh giơ cho B xem, ý là lấy được ma túy rồi. Sau đó, Thế A2 lấy túi nilong chứa 04 viên kẹo ra cất vào túi quần bên trái và vứt bao thuốc lá đi, chở B vào quán K. B biết đây là ma túy “kẹo” Thế A2 mua nên không hỏi gì.
Tại quán K, Thế A2 gặp Hoàng Văn C3 quản lý quán và được xếp phòng số 1. Cả hai vào phòng và gọi 02 nhân viên là C1 và C2 vào ngồi cùng (C1 ngồi với Thế A2, C2 ngồi với B). Do phòng 1 to nên C1 bảo đổi sang phòng 3. Tại phòng 3, Thế A2 bỏ túi nilon bên trong chứa 04 viên nén rồi đưa cho B, C1 mỗi người một viên uống trực tiếp, bản thân Thế Anh nuốt 01 viên. Do C1 nói C2 không chơi ma túy nên Thế A2 không đưa cho C2. Sau khi hát xong 1-2 bài Chi có chọn mấy bài nhạc N2 để nghe nhạc chơi đồ. B cũng đi lên chọn nhạc mạnh để nghe. Một lúc sau Thế A2 bảo: Chợ không chơi thì mất vui. Nghe vậy, B nói với Thế A2 “hay nghiền một tẹo kẹo cho vào cốc bia để nghe nhạc cho vui”. Mục đích B bảo Thế A2 nghiền một tẹo kẹo là để cho C2 sử dụng”. Thế A2 liền sử dụng lon bia nghiền viên ma tuý kẹo vẫn để trong túi nilong ra thành bột và đổ vào cốc bia của C2 ở ngay vị trí trước mặt Thế A2. B cầm cốc bia chứa ma tuý đưa cho C2 nhưng C2 không uống. Một lúc sau B nói “ Anh em mình cùng uống với nhau cốc bia cho vui” rồi cả 04 cùng nâng bia lên uống. Sau đó, Thế A2 nằm ôm C1 ngủ, B ôm Chợ. Được một lúc thì C2 nóng trong người rồi bảo không làm nữa. Chi và mọi người lau người, bôi dầu nhưng C2 không đỡ, mọi người lại dìu C2 vào phòng 1 nghe nhạc. Lúc này, C2 vẫn tỉnh táo và đứng nhảy cùng B. Được một lúc thì người Chợ mềm nhũn, không đứng được, nên được dìu ra phòng nằm nghỉ nhưng không đỡ. Sau đó, C3 đã gọi người đưa C2 đi cấp cứu. Chi quay về phòng hát cùng Thế A2 và B cho đến khi bị kiểm tra, bắt giữ.
Kiểm tra điện thoại của Thế A2 có hình ảnh tin nhắn với C1 “Quán e có chơi bời gì đâu. Chơi trộm kẹo nghe nhạc thôi”. Tiến hành dẫn giải, Thế A2 và B xác định được vị trí mua ma túy tại cột đèn điện trước cửa siêu thị L3 tại P, P, Hà Nội.
Sau này, B thay đổi lời khai: B không bảo Thế A2 nghiền ma túy cho vào cốc bia của C2, không tham gia đi nhận ma túy cùng Thế A2 nhưng B không có chứng cứ nào khác chứng minh cho việc thay đổi lời khai của mình nên không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường của gia đình của người bị tử vong là Thào Thị C2: Ngày 11/3/2024 Anh Thào Mí S1, sinh năm 1988, địa chỉ thôn M, xã T, huyện Y, Hà Giang người được gia đình Chợ ủy quyền, đại diện cho gia đình, có đơn yêu cầu đòi bồi thường cả vật chất lẫn tinh thần là 192.348.000 đồng. Gia đình đã được Nguyễn Văn D, chủ quán K Nhớ bồi thường 50.000.000đồng và gia đình Nguyễn Thế A bồi thường số tiền 10.000.000đồng. Số tiền còn lại gia đình đề nghị những người cùng tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phải cùng liên đới bồi thường. Số tiền bồi thường trên do gia đình tự ghi chép chi phí mai táng cho Thào Thị C2 nên không xuất trình được hóa đơn, chứng từ. Hiện gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và yêu cầu bồi thường 120.000.000đồng. Anh S1 cũng đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thế A.
Tại Cáo trạng số 693/CT-VKSHN-P1 ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B, Bùi Thị Linh C1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B và Bùi Thị Linh C1 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã quy kết và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Chị Nguyễn Hoài P thay cho bị cáo Nguyễn Thế A bồi thường thêm cho gia đình chị Thào Thị C2 40.000.000 đồng và không có ý kiến gì về toàn bộ số tiền đã bồi thường.
Chị Phạm Thị Huyền N1 thay bị cáo Nguyễn Mạnh B bồi thường cho gia đình chị Thào Thị C2 50.000.000 đồng và không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường.
Anh Thào Mí S1 đại diện gia đình chị Thào Thị C2 yêu cầu tổng cộng các khoản bồi thường là 192.348.000 đồng, đã nhận được bồi thường 60 triệu đồng (của bị cáo Nguyễn Thế A 10.000.000 đồng và của anh Nguyễn Văn D, chủ quán K Nhớ 50.000.000 đồng), nay còn yêu cầu bồi thường 142.348.000 đồng. Tại phiên tòa, anh S1 đã nhận trực tiếp được 40.000.000 đồng từ gia đình bị cáo Nguyễn Thế A, 50.000.000 đồng từ gia đình bị cáo Nguyễn Mạnh B; tổng cộng cả trước và trong phiên tòa là 150.000.000 đồng, nay yêu cầu bồi thường nốt số tiền còn lại 42.348.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thế A từ 16 năm đến 17 năm tù. Nguyễn Mạnh B từ 15 năm 6 tháng tù đến 16 năm tù. Bùi Thị Linh C1 từ 15 năm đến 15 năm 6 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận và giải quyết theo yêu cầu của anh S1.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung quỹ nhà các điện thoại của các bị cáo. Trả lại điện thoại, tài sản cho những người liên quan khác. Tịch thu tiêu hủy số ma túy và đôi dép màu đen.
Luật sư và trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị đề nghị Hội đồng xét xử xử xem xét giảm nhẹ hơn nữa hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ, có lời khai tại Cơ quan điều tra và không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; có căn cứ xác định:
Khoảng gần sáng ngày 21/11/2023, Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B bàn bạc rủ nhau mua ma túy về để sử dụng cùng Bùi Thị Linh C1 và Thào Thị C2 tại quán K. Thế A mua 04 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng rồi cùng B đi xe ô tô BKS 30G 684.80 đến nhận ma túy tại chân cột điện gần siêu thị L3, mang đến quán đến quán K tại thôn P, xã P, huyện P, Hà Nội để sử dụng. Khi đến quán, Thế A và B được bố trí vào phòng hát số 1, sau đó C1 bảo đổi sang phòng hát số 3. Tại phòng hát số C, Thế A đưa cho C1, B mỗi người 01 viên kẹo, 03 người sử dụng bằng hình thức uống trực tiếp. B và C1 là người chỉnh nhạc để cả nhóm cùng bay lắc. Thấy C2 không sử dụng ma túy, B bảo Thế A nghiền viên kẹo đổ vào cốc bia của C2 uống cho vui. Thế A sử dụng lon bia nghiền viên kẹo còn lại trong túi nilong, đổ vào cốc bia của C2. B đưa cốc bia có chứa ma túy nhưng C2 không uống. Một lúc sau khi tất cả đồng khởi thì C2 cầm cốc bia và cùng uống.
Sau khi uống cốc bia có chứa ma túy, C2 có biểu hiện bất thường, mẩn đỏ hết người, kêu mệt. C1 cùng các nhân viên trong quán đưa chợ vào Phòng hát số 1 bật nhạc cho “xả đồ”, B cũng vào nhảy cùng C2 tại Phòng 1 nhưng sau đó C2 lịm dần, được đưa đi cấp cứu và tử vong do “Suy tuần hoàn và hô hấp trên người sử dụng các chất ma túy MDA, MDMA”.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B, Bùi Thị Linh C1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội và gây hậu quả chết người, nên phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để xử phạt các bị cáo. Trong đó, bị cáo Nguyễn Thế A là người khởi xướng, mua ma túy, rủ rê lôi kéo người khác sử dụng. Nguyễn Mạnh B và Bùi Thị Linh C1 là người giúp Nguyễn Thế A chuẩn bị địa điểm, công cụ; cùng Nguyễn Thế A lôi kéo chị Thào Thị C2 sử dụng ma túy. Do vậy, Nguyễn Thế A được xác định có vai trò chính trong vụ án và phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo B và L.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo Nguyễn Thế A và Nguyễn Mạnh Bình tích C4 khắc phục hậu quả của vụ án; các bị cáo được nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo Nguyễn Thế A có công với cách mạng; bị cáo Bùi Thị Linh C1 là người dân tộc thiếu số tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; để áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tương ứng với tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo.
Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy làm chị C2 chết nên phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình chị C2, tương ứng với vai trò của từng bị cáo.
Tại phiên tòa, anh Thào Mí S1 đại diện gia đình chị Thào Thị C2 yêu cầu tổng cộng các khoản bồi thường là 192.348.000 đồng; ghi nhận anh Nguyễn Văn D, chủ quán K đã tự nguyện hỗ trợ 50.000.000 đồng, còn 142.348.000 đồng, cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền này. Trong đó; phần của Nguyễn Thế A là 65.348.000 đồng, chị Nguyễn Hoài P là chị gái bị cáo Nguyễn Thế A đã tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo cho đại diện gia đình chị C2 trước và trong phiên tòa được 50.000.000 đồng, nên bị cáo còn phải bồi thường tiếp 15.348.000 đồng; phần của Nguyễn Mạnh B: 55.000.000 đồng, chị Phạm Thị Huyền N1 là vợ bị cáo Nguyễn Mạnh B tại phiên tòa đã thay bị cáo bồi thường cho đại diện của chị C2 50.000.000 đồng, nên còn phải bồi thường tiếp 5.000.000 đồng; phần của bị cáo Bùi Thị Linh C1 là 22.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo sự thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của các bị cáo: 01 Điện thoại di động Iphone màu đen, vỡ nát mặt sau, hỏng màn hình, số imei 356716119974435 (đã qua sử dụng); 01 Điện thoại di động Iphone màu xanh, số imei 352853110778442 (đã qua sử dụng); 01 Điện thoại di động Iphone màu tím, số imei 355597824384081 (đã qua sử dụng); đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào quỹ nhà nước.
- Thu giữ của:
- + Anh Nguyễn Văn D: 01 Đầu thu camera @jhua màu đen.
- + Anh Hoàng Văn C3: 01 Điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 352850112178613.
- + Anh Nguyễn Tiến T2: 01 Điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 358281867349551.
Là những đồ vật không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại.
Còn lại là các chất ma túy là chất cấm lưu hành, đồ vật dính ma túy và 01 đôi dép nhựa màu đen không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về nội dung khác:
Về đối tượng “Tài bóng cười” qua xác minh chủ tài khoản là Nguyễn Tiến T2 sinh năm 1996, ĐKTT: T, X, T, Hà Nội; Chỗ ở: Số A, ngách F ngõ D T, K, T, Hà Nội. T2 khai không quen biết và không mua bán ma túy với Nguyễn Thế A. Hiện tại, T2 đăng ký, sử dụng số thuê bao 0344383333 và có cài đặt Telegram tên “Daso” bằng số điện thoại trên nhưng không sử dụng. Trước đây, T2 sử dụng số 0823636863 nhưng đã bị mất khoảng 02 năm trước. Số 0987756542 Tài không đăng ký, không sử dụng. T2 cũng không sử dụng tài khoản Telegram “T2 bóng cười”. Sáng ngày 21/11/2023 T2 ngủ ở nhà không đi đâu, không gặp ai và cũng không quen biết Nguyễn Thế A. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng T2 không thừa nhận việc bán ma túy cho Nguyễn Thế A. Nguyễn Mạnh B không biết Thế A mua ma túy của ai nên không khai được việc T2 và Thế A mua bán ma túy với nhau như thế nào. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không xác định được người bán ma túy cho Thế A. Ngoài lời khai của Thế A không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Tiến T2.
Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0987.756.xxx giao ma túy cho Thế A ngày 21/11/2023, xác minh chủ thuê bao là Hoàng Thị L1 sinh năm 1952, địa chỉ: Xã N, huyện T, Hải Phòng. Bà L1 khai không đăng ký, sử dụng số thuê bao trên, không quen biết ai là Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Thế A nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với chủ quán và quản lý quán K N3 là Nguyễn Văn D và Hoàng Văn C3 khai: Do quán chưa đủ điều kiện kinh doanh, chưa có bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến kinh doanh karaoke nên D không nhận khách, chỉ kinh doanh nhân viên ăn chênh lệch. Khi nhân viên đến làm, D không kiểm tra thông tin tên, tuổi, địa chỉ, không kiểm tra giấy tờ tùy thân. Quán chỉ sử dụng duy nhất một loại cốc nhựa cao khoảng 12cm trong suốt cho khách sử dụng. D và C3 luôn dặn nhân viên và khách, nghiêm cấm không cho sử dụng ma tuý trong quán. Nếu bắt được nhân viên nào sử dụng hoặc cho khách sử dụng ma tuý trong quán thì phạt 5 triệu đồng. Lời khai của D và C3 phù hợp với lời khai của C1 cùng các nhân viên làm việc trong quán. Do đó, không có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn D và Hoàng Văn C3.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B, Bùi Thị Linh C1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- - Nguyễn Thế A: 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/11/2023.
- - Nguyễn Mạnh B: 15 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/11/2023.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Thị Linh C1: 15 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 587, Điều 591 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Buộc các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Mạnh B, Bùi Thị Linh C1 liên đới bồi thường cho chị Thào Thị C2 thông qua người đại diện số tiền 142.348.000 đồng. Trong đó: Phần của Nguyễn Thế A là 65.348.000 đồng, đã bồi thường được 50.000.000 đồng còn phải bồi thường tiếp 15.348.000 đồng. Phần của Nguyễn Mạnh B: 55.000.000 đồng, đã bồi thường được 50.000.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp 5.000.000 đồng. Phần của bị cáo Bùi Thị Linh C1 là 22.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo sự thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 Hộp niêm phong, trên niêm phong có chữ ký của Trần Ngọc C5, Lưu Thị H4, Đào Văn H5.
- + 01 Phong bì niêm phong, trên niêm phong có chữ ký của Lê Khắc N4, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn D.
- + 01 Đôi dép nhựa màu đen đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 Điện thoại di động Iphone màu đen, vỡ nát mặt sau, hỏng màn hình, số imei 356716119974435 (đã qua sử dụng)
- + 01 Điện thoại di động Iphone màu xanh, số imei 352853110778442 (đã qua sử dụng)
- + 01 Điện thoại di động Iphone màu tím, số imei 355597824384081 (đã qua sử dụng)
- Trả lại:
- + Anh Nguyễn Văn D: 01 Đầu thu camera @jhua màu đen, đã qua sử dụng.
- + Anh Hoàng Văn C3: 01 Điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 352850112178613, đã qua sử dụng.
- + Anh Nguyễn Tiến T2: 01 Điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 358281867349551, đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/02/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra - Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể:
- - Nguyễn Thế A: 767.400 đồng.
- - Nguyễn Mạnh B: 300.000.000 đồng.
- - Bùi Thị Linh C1: 1.100.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Văn |
Bản án số 155/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 155/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
