Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 155/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19/6/2025

V/v: “Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Vương Thị Khánh Loan

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Cán bộ Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa có mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1957

Địa chỉ: 1, khu phố E, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1958

Địa chỉ: 1, khu phố E, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.

(Bà T, ông C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo Đơn khởi kiện ngày 18/11/2024, các lời khai tại hồ sơ, bà Nguyễn Ngọc T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ngọc C lập gia đình với nhau vào năm 1985, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn trong chuyện tình cảm, vợ chồng bất đồng quan điểm sống không thể giải quyết, hay xảy ra cãi vả dẫn đến xung đột trong cuộc sống. Vì không muốn hạnh phúc gia đình đỗ vỡ, nên đã nhiều lần vợ chồng tạo điều kiện hòa giải, hàn gắn

tình cảm nhưng kết quả không thành. Bà xác định nay bà không còn tình cảm với ông C nữa.

Nay xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02(hai) con chung:

  1. Nguyễn Quốc K, sinh ngày: 02/9/1986;
  2. Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày: 16/12/1991.

Ly hôn, các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại Bản tự khai ngày 14/02/2025, ông Nguyễn Ngọc C trình bày:

Ông và bà Nguyễn Ngọc T lập gia đình với nhau năm 1985, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, thỉnh thoảng có tranh cãi, cãi vả nhưng không trầm trọng.

Nay bà T xin ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn thương vợ.

Về con chung: Ông và bà T có 02(hai) con chung:

  1. Nguyễn Quốc K, sinh ngày: 02/9/1986;
  2. Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày: 16/12/1991.

Ly hôn, các con đã trưởng thành nên ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng theo định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung:

  1. Nguyễn Quốc K, sinh ngày: 02/9/1986;
  2. Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày: 16/12/1991.

Ly hôn, các con đã trưởng thành, bà T, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

Về án phí HNGĐ-ST: Bà Nguyễn Ngọc T được miễn án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp

hành pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Việc bà Nguyễn Ngọc T tranh chấp xin ly hôn đối với ông Nguyễn Ngọc C có nơi cư trú tại 1, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nên được xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét bà Nguyễn Ngọc T là nguyên đơn và ông Nguyễn Ngọc C bị đơn có đơn xin vắng mặt xét xử. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Nguyễn Ngọc C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T thì hai vợ chồng chỉ hạnh phúc thời gian đầu sau khi kết hôn, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, lối sống vợ chồng không hòa hợp, quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng. Cả hai vợ chồng đã cố gắng nhưng không thể cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông C nên bà làm đơn xin ly hôn với ông C để trả tự do cho nhau.

Ông Nguyễn Ngọc C cũng thừa nhận vợ chồng sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có tranh cãi, cãi vả nhưng không trầm trọng. Nay bà T xin ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn muốn hòa giải đoàn tụ, cùng chăm sóc nhau tuổi già nhưng thực tế hai ông bà đã sống ly thân trong thời gian dài, không liên lạc. Ông bà bỏ mặc nhau, không ai quan tâm đến ai.

Các con của bà T, ông C cũng trình bày là trong khoảng thời gian hai năm gần đây, ông C và bà T mâu thuẫn trầm trọng. Ông C thường xuyên chửi mắng cả ba mẹ con bằng những lời lẽ xúc phạm. Các con cũng bị ảnh hưởng tâm lý do không khí gia đình luôn căng thẳng.

Vì vậy có căn cứ chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc T.

[2] Về con chung: Bà T, ông C có 02(hai) con chung:

  1. Nguyễn Quốc K, sinh ngày: 02/9/1986;
  2. Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày: 16/12/1991.

Ly hôn, các con đã trưởng thành nên bà T, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về tài sản chung: Bà T, ông C trình bày là tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về nợ chung: Bà T, ông C đều khai không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí HNGĐ-ST: Bà Nguyễn Ngọc T được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 56, 58, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của bà Nguyễn Ngọc T.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.

2. Về con chung:

Bà T, ông C có 02(hai) con chung:

  1. Nguyễn Quốc K, sinh ngày: 02/9/1986;
  2. Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày: 16/12/1991.

Ly hôn, các con đã trưởng thành nên bà T, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung:

Bà T, ông C trình bày là tự thỏa thuận, yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung:

Không đặt ra để xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Ngọc T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh;
  • - VKSND Tp Biên Hòa;
  • - CCTHADS TP Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về xin ly hôn

  • Số bản án: 155/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyết-Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger