TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG Bản án số:155/2025/HNGĐ-ST Ngày:18 – 12 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Long
- Ông Trần Hoàng Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:46/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:149/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thùy D, sinh năm 1980 ( có mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long. - Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Thùy D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1998 chị D và anh L qua quen biết, tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C ( nay là xã C) vào ngày 30/5/2005, theo giấy chứng nhận kết hôn số 37. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống hay cự cải nhau, không có tiếng nói chung. Chị D đã nhiều lần khuyên can nhưng anh L tính nào tật đó không thay đổi. Từ đó, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D và anh L đã ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị D cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Văn L.
- Về con chung: Chị D và anh L chung sống có 02 con chung tên Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 10/11/1999 và Trần Văn G, sinh ngày 20/11/2004 hiện nay đã thành niên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ phải thu, nợ phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị D. Nhưng bị đơn không có văn bản trả lời và vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời đều vắng mặt tại các phiên tòa mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.
Tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn chị Bùi Thị Thùy D bảo lưu ý kiến không có gì bổ sung thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã C, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Xét, giữa chị D và anh L chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C ( nay là xã C) vào ngày 30/5/2005. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh L là hợp pháp. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được, chị D và anh L đã ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do, anh L không đến phiên tòa, thể hiện anh L đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị D yêu cầu được ly hôn với anh L là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị D và anh L chung sống có 02 con chung tên Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 10/11/1999 và Trần Văn G, sinh ngày 20/11/2004 hiện nay đã thành niên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Thùy D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Thùy D được ly hôn với anh Trần Văn L.
- Về nuôi con chung: Đã thành niên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Bùi Thị Thùy D phải chịu nộp 300.000đồng ( Ba trăm nghìn đồng ) án dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ từ 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long theo biên lai thu số 0000905 ngày 25/7/2025 chị Bùi Thị Thùy D không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Trần Thanh Thảo |
Bản án số 155/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 155/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Bùi Thị Thuỳ Dung với Trần Văn Liên
