Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15/4/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân. Ông Nguyễn Đức Hạnh

Ông Nguyễn Văn Hoàn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/01/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31/3/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Phương D, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn S, xã T (nay là xã T), huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn S, xã T (nay là xã T), huyện B, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Canada.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị B, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Anh D, chị H và bà B đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, biên bản lấy lời khai anh Vũ Phương D trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 28/8/2006 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về thôn S, xã T (nay là xã T), huyện B, tỉnh Hải Dương để sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì chị H đi lao động tại Canada. Sau khi chị H sang Canada làm việc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh chị không có sự quan tâm chăm sóc nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, mặc dù được hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Vũ Thị Quỳnh T, sinh ngày 01/10/2007; Vũ Nguyễn Hương G, sinh ngày 01/11/2011 và Vũ Phương Nam P, sinh ngày 23/01/2014. Anh chị thỏa thuận sau khi ly hôn để chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi trưởng thành, anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị H. Chị H nhờ mẹ đẻ của chị H là bà Trần Thị B thay chị H chăm sóc các con chung trong thời gian chị H không ở Việt Nam, anh nhất trí.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh D không cung cấp được địa chỉ của chị H nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị H. Bà Trần Thị B (là mẹ đẻ chị H) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên chị H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, các văn bản Tòa án giao cho chị H, bà nhận thay và có trách nhiệm thông báo lại cho chị H được biết. Chị H đã biết việc anh D có đơn xin ly hôn và xác định vợ chồng đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh D. Về con chung, chị H xác định vợ chồng có 03 con chung như anh D trình bày, hiện đang ở cùng với bà B. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi con chung tròn 18 tuổi và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung, do chị H đang ở nước ngoài nên chị nhờ bà thay chị H chăm sóc các con chung cho đến khi chị H về nước, bà nhất trí. Về tài sản chung, nợ chung chị H không yêu cầu giải quyết.

Các con chung của anh D và chị H là cháu Vũ Thị Quỳnh T, cháu Vũ Nguyễn Hương G và cháu Vũ Phương N P đều có nguyện vọng được ở với mẹ đẻ.

Tại phiên tòa: Anh D có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; chị H vắng mặt; bà B có quan điểm xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Vũ Phương D ly hôn chị Nguyễn Thị H; Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Vũ Thị Quỳnh T, sinh ngày 01/10/2007; Vũ Nguyễn Hương G, sinh ngày 01/11/2011 và Vũ Phương Nam P, sinh ngày 23/01/2014. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu T, cháu G và cháu P cho bà Trần Thị B chăm sóc trong thời gian chị H không ở Việt Nam. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Vũ Phương D có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị H. Bị đơn chị H có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, hiện chị H đang sinh sống tại Canada, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị H, Tòa án đã xác minh với gia đình chị H nhưng gia đình chị H không cung cấp được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị B là mẹ đẻ của chị H để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh D và chị H, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Bà B vẫn liên lạc với chị H và đã thông báo cho chị H được biết việc Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa anh D và chị H.

Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Phương D và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 28/8/2006 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, năm 2022 chị H sang Canada sinh sống, còn anh D tiếp tục sinh sống tại Việt Nam, do xa cách nên vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nay anh D có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình chị H xác định nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh D. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh D và chị H không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh D ly hôn chị H là phù hợp.

[2.2]. Về con chung: Anh Vũ Phương D và chị Nguyễn Thị H có 03 con chung là Vũ Thị Quỳnh T, sinh ngày 01/10/2007; Vũ Nguyễn Hương G, sinh ngày 01/11/2011 và Vũ Phương Nam P, sinh ngày 23/01/2014. Vợ chồng thống nhất sau khi ly hôn, chị H sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung, anh D không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị H.

Xét thấy, các con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ và đang có cuộc sống ổn định cùng gia đình chị H. Để đảm bảo cuộc sống cho con chung cần chấp nhận thỏa thuận của các đương sự, giao chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu T, cháu G và cháu P cho bà Trần Thị B (là mẹ đẻ của chị H) chăm sóc trong thời gian chị H không ở Việt Nam.

Anh Vũ Phương D được quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Vũ Phương D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Phương D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Phương D ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng các con chung là Vũ Thị Quỳnh T, sinh ngày 01/10/2007; Vũ Nguyễn Hương G, sinh ngày 01/11/2011 và Vũ Phương Nam P, sinh ngày 23/01/2014, thời gian từ tháng 4/2025 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H tạm thời không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tạm giao cháu Vũ Thị Quỳnh T, cháu Vũ Nguyễn Hương G và cháu Vũ Phương N P cho bà Trần Thị B (là mẹ đẻ của chị H) chăm sóc trong thời gian chị H không ở Việt Nam.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Anh Vũ Phương D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005484 ngày 14/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
  2. Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Phương D và bà Trần Thị B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Hồng Khê, huyện Bình Giang
  • (để ghi vào sổ ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Hạnh

Nguyễn Văn Hoàn

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 155/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Phương D xin ly hôn Nguyễn Thị H, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger