Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 155/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/6/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Phú

Ông Ngô Văn Bê

Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 21/10/1992, số định danh cá nhân: 024188006826 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (Hiện chị T đang lao động tại Đài Loan).

Địa chỉ cuối cùng của chị T tại Việt Nam: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số H, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Hà Văn D, sinh năm 1985, số định danh cá nhân: 024085020198 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (Hiện anh D đang lao động tại Hàn Quốc).

Địa chỉ cuối cùng của anh H tại Việt Nam: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị D1, sinh năm 1962, số định danh cá nhân: 024162012015 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn D kết hôn hợp pháp với nhau và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là Ủy ban nhân dân xã L), huyện T, tỉnh Bắc Giang tại giấy chứng nhận kết hôn số 57/TLKH-BS ngày 13/5/2020. Ban đầu cuộc sống hôn nhân của chị và anh D rất hạnh phúc, vợ chồng bảo ban làm ăn, tuy nhiên sau đó lại xảy ra nhiều mẫu thuẫn và sống chung với nhau không có hạnh phúc. Chị và anh D có liên lạc với nhau nhưng các cuộc điện thoại liên hệ chủ yếu là cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Dù đã cố gắng nhiều lần nhưng chị và anh D vẫn không tìm được biện pháp gì để hàn gắn níu kéo cuộc sống chung và chị xin ly hôn để giải thoát cho nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn D để anh, chị có cuộc sống ổn định riêng.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh Hà Văn D có 02 con chung là cháu Hà Nguyễn Phương U, sinh ngày 26/3/2009; cháu Hà M, sinh ngày 12/4/2017. Hiện nay, 02 con chung đang cùng sinh sống cùng bà nội tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu Toà án giao cháu H1 Nguyễn Phương U và cháu Hà M cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Do anh D đang làm việc tại nước ngoài nên bà nội là bà Dương Thị D1 sẽ tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng/con. Thời điểm cấp dưỡng từ khi vụ án được giải quyết xong bằng Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu H1 Nguyễn Phương U và cháu Hà M đủ 18 tuổi.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do hiện nay công việc của chị rất bận, chị không thể đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh Hà Văn D là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc ngày 02/4/2025 và biên bản lấy lời khai ngày 09/5/2025 với bà Dương Thị D1 là mẹ của anh Hà Văn D cung cấp:

Anh Dũng là con trai, chị T là con dâu của bà. Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là Ủy ban nhân dân xã L), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Mới đầu cuộc sống vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc, vợ chồng bảo ban nhau làm ăn. Tuy nhiên, một thời gian sau khi cuộc sống có gặp khó khăn về kinh tế, anh D đi nước ngoài làm ăn nên vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh, chị nói là do bất đồng quan điểm sống. Bà có khuyên bảo anh, chị về ở với nhau để chăm sóc con cái nhưng không được. Anh, chị có 02 con chung là cháu Hà Nguyễn Phương U, sinh ngày 26/3/2009; cháu Hà M, sinh ngày 12/4/2017. Hiện nay, 02 cháu đang cùng sinh sống cùng bà tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tài sản, công nợ của chung của anh, chị thì bà không rõ. Về yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh D, đó là chuyện của riêng vợ chồng anh chị nên bà không cho ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bà D1 cho biết anh D đã biết được sự việc chị T xin ly hôn với anh D và anh D có trình bày quan điểm đồng ý ly hôn với chị T, tuy nhiên anh D đang ở nước ngoài nên anh D không gửi ý kiến về Tòa án đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu giao con chung là cháu H1 Nguyễn Phương U, sinh ngày 26/3/2009; cháu Hà M, sinh ngày 12/4/2017 cho anh D chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm giao cho bà nuôi dưỡng cho đến khi anh D về Việt Nam, bà đồng ý.

Ngoài ra, ông bà cho biết: Anh Dũng đi lao động tại Hàn Quốc và có về thăm gia đình vài lần. Những lần anh D về Việt Nam, anh D sinh sống cùng bà tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Hàn Quốc, anh D thường xuyên liên lạc với gia đình qua mạng xã hội. Bà đã thông báo cho anh D biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa chị Nguyễn Thị T với anh Hà Văn D. Anh Dũng không cung cấp cho Toà án được địa chỉ, nơi ở, làm việc và ý kiến bằng văn bản. Anh Dũng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T và bà Dương Thị D1 xin vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Hà Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị T, biên bản lấy lời khai của bà Dương Thị D1 là mẹ đẻ của anh D; biên bản làm việc với bà Dương Thị D1, bản tự khai của cháu H1 Nguyễn Phương U, cháu Hà M và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị D1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Hà Văn D không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hà Văn D.

Về con chung: Giao Hà Nguyễn Phương U, sinh ngày 26/3/2009; cháu Hà M, sinh ngày 12/4/2017 cho anh D chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm giao cho bà Dương Thị D1 nuôi dưỡng cho đến khi anh D về Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/ 01tháng/ 01 con.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Hà Văn D và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Dũng là bị đơn hiện nay đang ở nước ngoài. Theo Công văn trả lời số 8921/QLXNC-P3 ngày 27/3/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh B cung cấp, anh D xuất cảnh ngày gần nhất ngày 12/4/2024 qua Cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định anh D hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Mặt khác, anh D là bị đơn hiện có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có bị đơn anh D ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về sự vắng mặt của đương sự:

    Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị D1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T và bà Dương Thị D1.

    Đối với bị đơn anh Hà Văn D: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn chị T và bà Dương Thị D1 (là mẹ đẻ của anh D), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh D trước khi xuất cảnh ở thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh H thông qua người thân của anh D là bà Dương Thị D1 (là mẹ đẻ của anh D) và đề nghị bà D1 thông báo cho anh D biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T và bị đơn là anh Hà Văn D. Bà D1 cho biết anh D vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh D không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh D tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  4. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/01/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là Ủy ban nhân dân xã L), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Hà Văn D.

    Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn D. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh D chung sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên một thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hàn gắn được. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên tháng 4 năm 2017, anh D sang Hàn Quốc xuất khẩu lao động. Kể từ ngày anh D sang Hàn Quốc thì mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Vợ chồng có liên lạc với nhau nhưng các cuộc điện thoại liên hệ chủ yếu là cãi vã, không còn quan tâm nhau nữa. Mặt khác bà Dương Thị D1 (là mẹ đẻ của anh D) cung cấp chị T và anh D có mâu thuẫn, anh chị có được bà và gia đình hòa giải nhưng không thành. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị T và anh D không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh D, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hà Văn D như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

  5. Về nuôi con chung: Chị T và anh D có 02 con chung là cháu Hà Nguyễn Phương U, sinh ngày 26/3/2009; cháu Hà M, sinh ngày 12/4/2017. Hiện nay 02 con chung đang sinh sống cùng bà D1 (mẹ đẻ của anh D) và do bà D1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho anh D nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm giao cho bà Dương Thị D1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh D về Việt Nam.

    Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Chị T và anh D đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Mặt khác, từ khi anh D đi lao động tại nước ngoài cho đến nay con chung do bà D1 vẫn là người trực triếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung của chị T và anh D, con chung phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T đối với yêu cầu giao con chung cho anh D là người chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm giao cho bà Dương Thị D1 là mẹ đẻ của anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung cho đến khi anh D về Việt Nam.

    Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị T không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

    Trường hợp anh Hà Văn D về nước sinh sống vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

  6. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/01tháng/01con.
  7. Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

    Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

  9. Về quyền kháng cáo:

    [9.1] Chị Nguyễn Thị T, anh Hà Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Bà Dương Thị D1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hà Văn D.
  2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là cháu Hà Nguyễn Phương U, sinh ngày 26/3/2009; cháu Hà M, sinh ngày 12/4/2017 cho anh D nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu H1 Nguyễn Phương U và cháu Hà M cho bà Dương Thị D1 nuôi dưỡng cho đến khi anh Hà Văn D về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Nguyễn Phương U và cháu Hà M cho anh Hà Văn D với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/ 01 tháng/ 01 con. Phương thức cấp dưỡng theo tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu H1 Nguyễn Phương U và cháu Hà M đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005651 ngày 31/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

    Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

  6. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; bà Dương Thị D1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Lam Sơn, huyện Tân Yên;
  • -Cổng thông tin điện tử;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 155/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giua chị Nguyen Thi T va anh Ha Van D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger