TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2025/DSPT.
Ngày: 21/02/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tài;
Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1140/DSPT ngày 27/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 187/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 111/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 1381/2025/QĐ-PT ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q;
Trụ sở: Tầng A và Tầng B, tòa nhà S tower, A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết P, sinh năm: 1978 (giấy ủy quyền số 212060.24 ngày 04/10/2024) (có mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984 (có mặt);
Địa chỉ: 2 H, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T (có đơn xét xử vắng mặt);
- Ông Nguyễn Trí N (vắng mặt);
- Bà Lê Thị Bé N1 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Thu C (vắng mặt);
- Người đại diện hợp pháp của trẻ Nguyễn Phú Đ (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: 2 H, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa chỉ: 2 H, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Trí H1 (vắng mặt);
Địa chỉ: 2 H, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H và bà Nguyễn Thị Thu M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có bà Hồ Thị N2 là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (gọi tắt là V) đã ký với bà Nguyễn Thị Thu H các hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Thu H vay số tiền 4.360.00.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bù đắp vốn tự có mua bất động sản tài địa chỉ: 6 T, phường T, Quận A; thời hạn vay: 360 tháng. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,3%/năm; lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng; Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 30.
Ngày 29/11/2021, V đã giải ngân cho bà H theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6789401.21 với số tiền 4.360.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
Căn cứ đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020, V đồng ý cấp Thẻ Tín Dụng cho cho bà H, chi tiết số thẻ như sau: 5268870000832693; loại thẻ: MC V; Hạn mức thẻ: 230,000,000 đồng; lãi suất, phí: theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện của V từng thời kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 30/01/2023 và đang xếp loại nợ nhóm 05 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N3
Tạm tính đến ngày 14/8/2024, bà H đã trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tổng cộng là 498.337.048 đồng (trong đó: nợ gốc 40.300.000 đồng, nợ lãi 458.037.048 đồng) và còn nợ Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là: 6.034.579.678 đồng, trong đó: Hợp đồng tín dụng 2718729.21 ngày 25/11/2021 nợ gốc là 4.319.700.000 đồng, nợ lãi trong hạn 636.493.325 đồng, nợ lãi quá hạn 686.476.295đồng; Nợ thẻ số 5268870000832693 bao gồm nợ gốc 228.815.831 đồng, nợ lãi quá hạn 103.190.094 đồng, phí 59.904.133 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H".
Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609, số công chứng: 025910, Quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 26/10/2020. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Từ những nội dung đã trình bày trên, Ngân hàng TMCP Q kính đề nghị Quý Tòa xem xét, giải quyết những yêu cầu sau:
Buộc bà H phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 14/8/2024 là: 6.034.579.678 đồng, trong đó: Tổng nợ Hợp đồng tín dụng 2718729.21 ngày 25/11/2021 là 5.642.669.620 đồng, trong đó nợ gốc là 4.319.700.000, nợ lãi trong hạn 636.493.325 đồng, nợ lãi quá hạn 686.476.295 đồng; Tổng nợ thẻ số 5268870000832693 là 391.910.058 đồng trong đó nợ gốc 228.815.831 đồng, nợ lãi quá hạn 103.190.094 đồng, phí 59.904.133 đồng.
Đề nghị Quý Tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, phí kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi bà H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã ký (Chi tiết xem HĐTD số 2718729.21 ngày 25/11/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6789401.21 ngày 29/11/2021; Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020.
Trong trường hợp bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản gắn liền trên đất là: nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H”.
Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609, số công chứng: 025910, Quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 26/10/2020 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V.
Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Nguyễn Thị Thu H đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V (Chi tiết xem Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609, số công chứng: 025910, Quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 26/10/2020).
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V.
Buộc bà H hoàn trả tiền tạm ứng án phí, tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ và các chi phí khác phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án.
lãi suất quy định tại thoả thuận cho vay cá nhân nêu trên cho đến khi trả hết nợ.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Bà H xác nhận có vay Ngân hàng TMCP Q số tiền 4.360.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021, khoản vay trên đã được Ngân hàng giải ngân đầy đủ. Thời hạn vay là 360 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 9.3%/năm và bà xác nhận khoản nợ tín dụng theo Hợp đồng trên.
Để bảo lãnh cho khoản vay trên, bà H đã thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ 2 H, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà xác nhận có đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020, Hạn mức thẻ: 230.000.000 đồng; lãi suất, phí: theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện của V từng thời kỳ.
Hiện nay, do đang gặp khó khăn trong kinh tế nên đề nghị Ngân hàng sắp xếp cho bà H thời gian sắp xếp để bán tài sản, trả nợ cho Ngân hàng. Đồng thời, đề nghị Ngân hàng xem xét miễn giảm lãi cho bà.
Bà đề nghị Toà án yêu cầu Ngân hàng làm rõ các khoản tiền đã bị đóng băng, cụ thể hợp đồng vay ngày 28/10/2020 đóng băng số tiền 200.000.000 đồng, hợp đồng vay ngày 25/11/2021 đóng băng số tiền 100.000.000 đồngvà khoản tiền bảo hiểm bà H đã đóng. Hiện nay, bà chưa có tài liệu, chứng cứ về hai khoản tiền bị đóng băng này để cung cấp cho Toà án vì trong bản sao kê tài khoản tại Ngân hàng không có hiển thị, vì vậy bà không biết số tiền bà đã bị đóng băng là trong tài khoản nào.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu M trình bày:
Việc vay mượn giữa bà H và Ngân hàng tôi đề nghị Ngân hàng cho bà H thêm thời gian để bà H thực hiện việc trả nợ và đề nghị Toà án Toà án yêu cầu Ngân hàng làm rõ các khoản tiền đã bị đóng băng, cụ thể hợp đồng vay ngày 20/10/2021 đóng băng số tiền 200.000.000 đồng, hợp đồng vay ngày 20/10/2021 đóng băng số tiền 100.000.000 đồng và các khoản tiền bảo hiểm bắt buộc trước khi giải ngân bà H đã đóng. Trong trường hợp phải phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, đề nghị Toà án thực hiện theo quy định của pháp luật, bà không có ý kiến gì.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Trí N, bà Lê Thị Bé N1, bà Nguyễn Thị Thu C, Người đại diện hợp pháp của trẻ Nguyễn Phú Đ, ông Nguyễn Trí H1:
Các đương sự có tên trên đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của các đương sự nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.
- Tại phiên toà sơ thẩm: Nguyên đơn do bà Hồ Thị N2 là người đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu bà H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền (tạm tính đến ngày 27/9/2024) là 6.171.308.217 đồng. Trong đó: Nợ gốc phát sinh từ Hợp đồng tín dụng 2718729.21 ngày 25/11/2021 là 4.319.700.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 636.493.325 đồng; Nợ lãi quá hạn: 808.970.268 đồng. Nợ gốc phát sinh từ Thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020 là 228.815.831 đồng; nợ lãi quá hạn: 115.344.660 đồng; phí: 61.984.133 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 187/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3 đã xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Bà Nguyễn Thị Thu H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền: 6.171.308.217 đồng (sáu tỷ một trăm bảy mươi mốt triệu ba trăm lẻ tám nghìn hai trăm mười bảy đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 4.319.700.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng), lãi trong hạn: 636.493.325 đồng (sáu trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng), lãi quá hạn: 731.809.840 đồng (bảy trăm ba mươi mốt triệu tám trăm lẻ chín nghìn tám trăm bốn mươi đồng) ; lãi phạt chậm trả lãi : 77.160.427 đồng (bảy mươi bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi bảy đồng) phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6789401.21 ngày 29/11/2021.
- Nợ gốc 228.815.831 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu tám trăm mười lăm nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng), lãi quá hạn: 115.344.660 đồng (một trăm mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi đồng) ; phí 61.984.133 đồng (sáu mươi mốt triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn một trăm ba mươi ba đồng đồng) phát sinh từ Đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020.
Kể từ ngày 28/9/2024, bà Nguyễn Thị Thu H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi, phí phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận của từng Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với việc điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609 ngày 26/10/2020 gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Nguyễn Thị Thu H đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì bà H có trách nhiệm thanh toán số nợ còn lại.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu H trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H toàn bộ các giấy tờ bản chính liên quan đến tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Ngày 30/9/2024, bà Nguyễn Thị Thu M và bà Nguyễn Thị Thu H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H và bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng khi vay tiền thì Ngân hàng yêu cầu hai bà phải mua bảo hiểm và chuyển số tiền 300.000.000đồng vào tài khoản của Ngân hàng nhưng ngân hàng không xem xét. Đại diện ngân hàng không chấp nhận kháng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H và bà M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự là hợp lệ và trong thời hạn luật định; việc nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn luật định nên có căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc kháng cáo theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H, bà M trình bày khi vay tiền thì Ngân hàng yêu cầu hai bà phải mua bảo hiểm và chuyển số tiền 300.000.000đồng vào tài khoản của Ngân hàng nhưng ngân hàng không xem xét. Do việc chuyển tiền này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết nên Tòa án cấp phúc thẩm cũng không thể giải quyết trong vụ án này. Vì vậy, nếu có chứng cứ thì bà H, bà M được quyền khiếu nại, tố cáo hoặc thực hiện việc khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung kháng cáo của bà H và bà M:
[2.1] Đối với Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021 :
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất hai bên có ký kết Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021 với nội dung: VIB cho bà H vay số tiền 4.360.00.000 đồng; mục đích vay vốn: Bù đắp vốn tự có mua bất động sản tài địa chỉ: 6 T, phường T, Quận A, thời hạn vay: 360 tháng. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,3%/năm; lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng; hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 30.
Ngày 29/11/2021, Ngân hàng đã giải ngân và bà H đã nhận đủ khoản tiền vay theo đúng Hợp đồng tín dụng theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6789401.21 ngày 29/11/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã thanh toán cho Ngân hàng 498.176.914 đồng (trong đó: nợ gốc 40.300.000 đồng, nợ lãi 457.876.914 đồng). Sau đó, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 30/1/2023.
Việc bà H thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận. Ngày 25/12/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn, tính tới ngày xét xử sơ thẩm (27/9/2024) bà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 5.765.163.593 đồng, trong đó: Nợ gốc là 4.319.700.000 đồng, lãi trong hạn 636.493.325 đồng, lãi quá hạn là 731.809.840 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 77.160.427 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H trả nợ cho ngân hàng khoản nợ nêu trên là có căn cứ.
[2.2] Đối với đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020 :
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất hai bên có ký kết đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020, chi tiết số thẻ: 5268870000832693; loại thẻ: MC V; hạn mức thẻ: 230.000.000 đồng; lãi suất, phí: theo biểu phí và điều khoản điều kiện của V từng thời kỳ. Căn cứ lời khai thống nhất của hai bên và báo cáo phân bổ thu gốc, lãi, phí, card và bản sao kê các giao dịch qua thẻ tín dụng 5268870000832693 thể hiện bà H đã thực hiện giao dịch số tiền là 381.588.400 đồng, đã thanh toán được 179.544.607 đồng. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Việc bà H thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thoả thuận. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà H phải thanh toán tổng số tiền còn nợ là 406.144.624 đồng; trong đó số nợ gốc là 228.815.831 đồng, lãi quá hạn tính tới ngày xét xử sơ thẩm là 115.344.660 đồng, phí là 61.984.133 đồng là có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H trả khoản nợ 406.144.624 đồng là có căn cứ.
Bà H xác nhận số nợ như trình bày của nguyên đơn và do hoàn cảnh khó khăn xin trả dần số nợ cho đến khi hết nợ, đề nghị Ngân hàng miễn giảm lãi nhưng không được đại diện ngân hàng chấp nhận. Việc bà H không thanh toán nợ đúng hạn là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn do đó việc nguyên đơn yêu cầu bà H phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Như vậy, tổng số nợ gốc và lãi bà H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (27/9/2024) là 6.171.308.217 đồng là có căn cứ.
[4] Bà H và bà M đề nghị xem lại khoản tiền bị đóng băng và khoản tiền bảo hiểm bắt buộc mà bà H đã đóng, khoản tiền bảo hiểm là do Ngân hàng bắt buộc bà phải đóng, nếu không đóng Ngân hàng sẽ không cho vay nhưng bà H không xuất trình các chứng cứ liên quan đến việc này. Do đây là ý kiến trình bày, không có đơn yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập và các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc trình bày là không có cơ sở trên nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định.
[5] Về tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ:
[5.1] Để đảm bảo cho khoản vay, Ngân hàng và bà H đã ký kết hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609 ngày 26/10/2020 với tài sản bảo đảm cho khoản vay là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H”.
[5.2] Tại điểm 1.1 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp, hai bên thoả thuận : “Nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ của bên B, hiện tại cũng như tương lai, đã phát sinh hoặc có thể phát sinh, riêng rẽ hoặc liên đới với bất kỳ người nào khác cho bên A bao gồm nhưng không giới hạn bởi khoản nợ gốc, lãi, phí, tiền phạt và các khoản phải trả khác theo Hợp đồng tín dụng số 9293434.20 ký ngày 23/10/2020 bao gồm cả phụ lục, bản bổ sung, sửa đổi và các hợp đồng/thoả thuận cấp tín dụng khác ký giữa bên A và bên B trong khoảng thời gian từ ngày 23/10/2020 đến ngày 23/10/2030 (sau đây gọi là Hợp đồng tín dụng).
Tại hợp đồng thế chấp nêu trên hai bên thỏa thuận phạm vi bảo đảm bao gồm nhưng không giới hạn các nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 9293434.20 ký ngày 23/10/2020, Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021, Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 27/10/2020. Các Hợp đồng này đều xác lập sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp và đều nằm trong phạm vi bảo đảm của hợp đồng này. Do đó, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ của Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021và Thẻ tín dụng phát hành ngày 27/10/2020.
Do nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác nhận Hợp đồng tín dụng số 9293434.20 ký ngày 23/10/2020 đã được tất toán, bà H tiếp tục đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6789401.21 ngày 29/11/2021 bằng Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609 ngày 26/10/2020.
[5.3] Căn cứ công văn số: 2496/CNQ3-ĐK ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H- Chi nhánh Q1 về việc cung cấp thông tin nhà đất số B H, Phường V, Quận C nội dung :
“Nhà đất tại địa chỉ 2 H, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thu H theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 ngày 28/10/2002 do Uỷ ban nhân dân Thành phố cấp, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 20/12/2019.
Về thông tin giao dịch bảo đảm: hiện đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q ngày 26/10/20220.”
Do đó, bà H phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 299, Khoản 6 Điều 320, Khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự. Bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu của Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ vay là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện để giải quyết vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà H và bà M và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ.
[7] Về chi phí tố tụng: Bà H phải chịu theo quy định và có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ngân hàng.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H và bà Nguyễn Thị Thu M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về việc kiện: “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền: 6.171.308.217 đồng (Sáu tỷ một trăm bảy mươi mốt triệu ba trăm lẻ tám nghìn hai trăm mười bảy đồng), trong đó:
Nợ gốc của khoản vay: 4.319.700.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng), lãi trong hạn: 636.493.325 đồng (sáu trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng), lãi quá hạn: 731.809.840 đồng (bảy trăm ba mươi mốt triệu tám trăm lẻ chín nghìn tám trăm bốn mươi đồng) ; lãi phạt chậm trả lãi : 77.160.427 đồng (bảy mươi bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi bảy đồng) phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 2718729.21 ngày 25/11/2021 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6789401.21 ngày 29/11/2021.
Nợ gốc của thẻ tín dụng là 228.815.831 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu tám trăm mười lăm nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng), lãi quá hạn: 115.344.660 đồng (Một trăm mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi đồng) ; phí 61.984.133 đồng (sáu mươi mốt triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn một trăm ba mươi ba đồng đồng) phát sinh từ đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 27/10/2020.
- Kể từ ngày 28/9/2024, bà Nguyễn Thị Thu H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi, phí phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận của từng Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với việc điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1109899.20.609 ngày 26/10/2020 gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Nguyễn Thị Thu H đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì bà H có trách nhiệm thanh toán số nợ còn lại.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu H trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H toàn bộ các giấy tờ bản chính liên quan đến tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 22 (sơ đồ nền), địa chỉ: 2 H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 20578/2002 do UBND Thành phố H cấp ngày 28/10/2002, cập nhật chuyển nhượng ngày 20/12/2019 đứng tên Nguyễn Thị Thu H.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thu H hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 114.171.308 (một trăm mười bốn triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn ba trăm lẻ tám) đồng.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền án phí đã tạm nộp là 56.582.979 (năm mươi sáu triệu năm trăm tám mươi hai nghìn chín trăm bảy mươi chín) đồng theo biên lai thu số 0002310 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thu H và bà Nguyễn Thị Thu M mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0040576 và biên lai thu tiền số 0040577 ngày 02/10/2024 của chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, đương sự đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân |
Bản án số 155/2025/DSPT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 155/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
