Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 155/2025/DS-PT

Ngày 02/4/2025

V/v: “Tranh chấp QSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
  • Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình. Bà Nguyễn Thị Trang Thư
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02/4/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 638/2024/TLPT-DS ngày 30/12/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 333/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1976.
  • Địa chỉ: Số B, đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Thanh N, sinh năm: 1998 (Có mặt).

    Địa chỉ: Số A, đường L, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

  • Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài D, sinh năm: 1957.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hoài Vĩnh P, sinh năm: 1999 (Có mặt).

    Cùng địa chỉ: Số A, đường H, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Xuân T1, sinh năm: 1993 (vắng mặt);
    2. Địa chỉ: Số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

    3. Bà Quách Kim C, sinh năm: 1958 (vắng mặt);
    4. Địa chỉ: Số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

    5. Ông Lê Ngọc N1, sinh năm: 1986 (vắng mặt);
    6. Địa chỉ: Số D, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

    7. Ông Nguyễn Hoài Vĩnh P1, sinh năm: 1992 (có mặt).
    8. Địa chỉ: Số A, đường H, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  • Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Hoàng D1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T có đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Nguyễn Thị Thu T được công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 160, tờ bản đồ số 54, diện tích 51,84 m², tọa lạc tại đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 739257 (Số vào sổ CH01656) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 22/7/2011. Nguồn gốc đất là do bà T nhận chuyển nhượng từ ông Phan Văn P2 vào năm 2011. Thửa đất số 160 của bà T giáp ranh với thửa đất số 203 của ông Nguyễn Hoài D. Trong quá trình sử dụng đất, hai bên đã thống nhất thỏa thuận ranh giữa hai thửa đất. Tuy nhiên, đến tháng 4/2022, ông D đã xây dựng hàng rào lấn chiếm qua thửa đất số 160 của bà T. Do vậy, bà T khởi kiện yêu cầu ông D phải thảo dỡ hàng rào xây dựng lấn chiếm qua đất của bà T và trả lại cho bà T phần đất lấn chiếm là 18,3 m² (Vị trí B theo bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hoài D trình bày: Ông Nguyễn Hoài D là chủ sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 54, diện tích 743,2m², tọa lạc tại đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 809171 (Số vào sổ CH000475) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/7/2010. Nguồn gốc đất là do ông D nhận thừa kế từ mẹ là bà Nguyễn Thị T2 từ năm 1996. Thửa đất số 203 của ông D tiếp giáp với thửa đất số 160 của bà T. Trong quá trình sử dụng đất, hai bên đã thỏa thuận xác định ranh giới giữa hai thửa. Tuy nhiên, vào năm 2022 ông D phát hiện ranh giới giữa hai thửa đất không chính xác nên đã xây dựng lại tường rào nhằm bảo vệ đất.

Qua yêu cầu khởi kiện của bà T, ông D không đồng ý vì phần đất tranh chấp diện tích 18,3m² (Vị trí B theo Bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C) là thuộc thửa số 203 của ông D và hiện do ông D đang quản lý, sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Xuân T1 trình bày: Bà là chủ sử dụng thửa đất số 154, 155, tờ bản đồ số 54, tọa lạc tại đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 337071 (Số vào sổ CS08150) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 337072 (Số vào sổ CS08151) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 22/3/2023. Nguồn gốc đất là do bà được tặng cho và nhận thừa kế từ cha mẹ của bà. Thửa đất số 154 và 155 của bà và các thửa đất lân cận đều có ranh giới rõ ràng. Bà và các chủ sử dụng đất đều sử dụng ổn định và không có tranh chấp. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn bà không có ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Kim C, ông Lê Ngọc N1 và ông Lê Hoài Vĩnh P3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản hồi.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 333/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoài D tháo dỡ tường rào và trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T diện tích đất lấn chiếm 18,3m² thuộc thửa 160, tờ bản đồ số 54, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 739257 (Số vào sổ CH01656) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 22/7/2011.

(Vị trí B theo Bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C)

Ngoài ra, bản án còn tuyên chi phí thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử. Bị đơn đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Hoài Vĩnh P trình bày: Việc tách thửa ban đầu có sai sót. Diện tích đo đạc thực tế trùng khớp với diện tích bà T lấn chiếm. Gia đình nguyên đơn có ký giáp ranh tứ cận chứ không phải công nhận nhận phần đất này của bà T. Bác án sơ thẩm tuyên không đúng với thực tế sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phía nguyên đơn có anh Lê Thanh N trình bày: Nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 160 là 51,8m² do bà T đứng tên giấy chứng nhận ngày 22/7/2011, diện tích 51,84m², diện tích đo đạc thực tế là 30,6m², giảm 21,24m², nếu cộng phần đất tranh chấp 18,3m² thì thửa đất 160 vẫn thiếu 2,94m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn được cấp là 743,2m² nhưng đo đạc diện tích lại tăng lên 152,7m² mà không chứng minh diện tích đất dôi dư từ đâu mà có. Tại bút lục 135 ông D ký giáp ranh thừa nhận diện tích của bà T có chiều ngang 4m và dài 13m. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ y bản án sơ thẩm.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Nguồn gốc thửa đất 203 do ông D đứng tên giấy chứng nhận ngày 20/7/2010, diện tích 1.354,4m². Đến năm 2011, ông D tặng cho ông P3 diện tích 611,2m² (tách thành thửa 213), diện tích còn lại của thửa 203 sau khi tặng cho là 743,2m², diện tích đo đạc thực tế của thửa 203 là 895,9m² (tăng 152,7m², chưa tính diện tích đất tranh chấp 18,3m²).

Nguồn gốc thửa đất 160 do bà T đứng tên giấy chứng nhận ngày 22/7/2011, diện tích 51,84m², diện tích đo đạc thực tế là 30,6m², giảm 21,24m², nếu cộng phần đất tranh chấp 18,3m² thì thửa đất 160 vẫn thiếu 2,94m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận.

Thời điểm bà T lập thủ tục cấp giấy chứng nhận vào năm 2011, ông D ký tên trong biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng ngày 31/5/2011, theo biên bản này thì thửa đất của bà T có chiều ngang 4m, chiều dài 13m. Mặt khác, vào năm 2018, khi bà T và các hộ lân cận thỏa thuận mở lối đi chung, ông D ký tên trong biên bản thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2018, cũng theo biên bản này, thửa đất của bà T có chiều ngang 4m, chiều dài 13m.

Theo Bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện, thửa đất 160 có chiều ngang là 4m, chiều dài 13m, phù hợp với hình thể thửa đất được ghi nhận trong giấy chứng nhận cấp cho bà T, phù hợp với ranh giới thửa đất theo sự xác định của ông D vào các năm 2011, 2018. Theo đó, phần đất tranh chấp là một phần của thửa đất 160 do bà T đứng tên giấy chứng nhận, nên có cơ sở để xác định, phần đất tranh chấp 18,3m² thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của bà T.

Căn cứ khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Do bà T là chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông D giao trả diện tích đất tranh chấp 18,3m² là phù hợp.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án số 333/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, không chấp nhận kháng cáo của ông D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: "Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định pháp luật. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về nội dung: Bà T khởi kiện yêu cầu ông D phải thảo dỡ hàng rào xây dựng lấn chiếm qua đất của bà T và trả lại cho bà T phần đất lấn chiếm là 18,3m² (Vị trí B theo bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C). Bị đơn cho rằng: Ông là chủ sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 54, diện tích 743,2m², tọa lạc đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 809171 (Số vào sổ CH000475) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/7/2010. Nguồn gốc đất là nhận thừa kế từ mẹ là bà Nguyễn Thị T2 từ năm 1996. Thửa đất ông D tiếp giáp với thửa đất bà T. Hai bên đã xác định ranh. Tuy nhiên, vào năm 2022 ông D phát hiện ranh giới giữa hai thửa đất không chính xác nên đã xây dựng lại tường rào nhằm bảo vệ đất. Qua yêu cầu khởi kiện của bà T, ông không đồng ý vì phần đất tranh chấp diện tích 18,3m² thuộc thửa số 203 của ông do ông D đang quản lý, sử dụng.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Phần đất tranh chấp có diện tích 18,3m² (Vị trí B) là thuộc thửa đất số 160, tờ bản đồ số 54 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 739257 (Số vào sổ CH01656) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 22/7/2011. Về nguồn gốc: Thửa đất số 160 thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ ông Phan Văn P2 vào năm 2011, với diện tích 51,84m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 739257 (Số vào sổ CH01656) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 22/7/2011. Tuy nhiên, diện tích đất thực tế (Theo Bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C) là 48,9m² (Bao gồm cả phần diện tích đất tranh chấp), thiếu 2,94m².

Phần đất của bị đơn tại thửa đất số 203 thuộc quyền sử dụng của bị đơn được công nhận quyền sử dụng với diện tích 1.354,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/7/2010. Năm 2011, ông D tặng cho ông Nguyễn Hoài Vĩnh P1 một phần diện tích thửa đất; Diện tích đất còn lại là 743,20m². Qua đo đạc diện tích thực tế của thửa số 203 bị đơn đang sử dụng là 895,9m² (Chưa bao gồm phần đất tranh chấp diện tích 18,3m²), thừa 152,7m². Như vậy có sự dôi dư theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất . Bị đơn không chứng minh được quyền sử dụng đất dôi dư từ đâu mà có.

Xét quá trình sử dụng: Nguyên đơn sử dụng ổn định, lâu dài. Hai bên đã thống nhất ranh giới. Tuy nhiên, phía bị đơn đã xây dựng lại ranh giới mới chưa được sự đồng ý của hai bên từ đó phát sinh tranh chấp. Phía bị đơn thừa nhận Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã ghi nhận hiện trạng sử dụng thửa đất số 160 của nguyên đơn. Thửa đất 160 của nguyên đơn có kích thước chiều ngang là 4m, chiều dài là 13m; Kích thướt thửa đất được xác định là phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Bị đơn đã thừa nhận vị trí kích thước này của nguyên đơn nhưng nay bị đơn xây tường trên phần đất chính bị đơn công nhận cho nguyên đơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đồng thời, buộc bị đơn phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất trả lại diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn là phù hợp.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: 10.561.340 đồng, nguyên đơn đã tạm ứng trước 7.561.340 đồng, bị đơn đã tạm ứng 3.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí này. Bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn 7.561.340 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn.

[6] Xét đề nghị của Vị đại diện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 158, Điều 228, Điều 229, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • - Điều 166 Bộ luật Dân sự
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoài D. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.
  2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoài D tháo dỡ tường rào và trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T diện tích đất lấn chiếm 18,3m² thuộc thửa 160, tờ bản đồ số 54, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 739257 (Số vào sổ CH01656) do UBND quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 22/7/2011.

    (Vị trí B theo Bản trích đo địa chính số 637/VPĐKĐĐ ngày 29/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Bị đơn phải chịu 10.561.340 đồng (Mười triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng 7.561.340 đồng, bị đơn đã tạm ứng 3.000.000 đồng nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn 7.561.340 đồng (Bảy triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi đồng).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Hoài D được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T được nhận lại 1.125.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0000947 ngày 24/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoài D được miễn do là người cao tuổi.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND.ТРСТ;
  • - Tòa án Q. Ninh Kiều;
  • - THA.DS. Q. Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Hải
Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Trang Thư Phạm Văn Bình Nguyễn Văn Hải
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 155/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger