Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày: 03/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến và ông Trương Ngọc Cường.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn K, sinh năm 1992; nơi thường trú: xóm B, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1973; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1993 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2024; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (đều vắng mặt)

  1. Bà Đàm Thị B, sinh năm 1975; trú tại: khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;
  2. Anh Bùi Văn L, sinh năm 2002; trú tại: xóm K, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

* Người làm chứng: (đều vắng mặt)

  1. Anh Quách Văn Q, sinh năm 1992; trú tại: xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
  2. Anh Quách Xuân T, sinh năm 2002; trú tại: xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
  3. Anh Quách Văn H1, sinh năm 1992; trú tại: xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;

* Người chứng kiến: Anh Trần Văn H2, sinh năm 1984; trú tại: khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1983 – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Trại tạm giam – Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 ngày 23/ 6/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh kiểm tra quán K1, tại số A khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do Bùi Văn K, sinh năm 1992, Hộ khẩu thường trú (HKTT) tại thôn B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đang thuê trọ của chị Đàm Thị B, sinh năm 1975, trú tại khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tại thời điểm kiểm tra có 04 đối tượng gồm: Bùi Văn K, Quách Văn H1, sinh năm 1992, Quách Xuân T, sinh năm 2002 và Quách Văn Q, sinh năm 1992, cùng trú tại thôn B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đang sử dụng trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ tại mặt đệm trong phòng có 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa sứ có bám dính chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn L và 01 vỏ túi nilon màu trắng đều bám dính chất tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý). Lực lượng Công an tiến hành niêm phong toàn bộ số vật chứng trên vào 01 túi nilon theo đúng quy định đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang trước sự chứng kiến anh Trần Văn H2, sinh năm 1984, trú tại khu S, phường N, thành phố B; Quách Xuân T, Quách Văn H1 và Quách Văn Q.

Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra nước tiểu, xác định: K, T, H1, Q đều dương tính với chất ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại số A khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét thu giữ 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 đèn nháy; 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, ngày 25/6/2024 Phòng K2 Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 1551/KL-KTHS, kết luận:

  • Chất tinh thể màu trắng bám dính trên các mẫu vật: 01 đĩa sứ, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn L, 01 vỏ túi nilon gửi giám định có khối lượng là 0,04444 gam; Là ma túy; Loại ma túy Ketamine.

Ketamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma tủy và tiền chất./.

Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 11h ngày 23/6/2024, Bùi Văn K gọi điện qua ứng dụng M rủ T, H1, Q đi uống bia nhưng T và H1 bận, không đi được nên K và Q đi uống bia tại thị xã Q. Đến khoảng hơn 12h cùng ngày, sau khi uống bia xong, K rủ Q về quán K1 của K ở khu S, phường N, thành phố B để sử dụng ma túy, Q đồng ý. Sau đó, K gọi điện qua ứng dụng Messenger rủ T, H1 đến quán của K để cùng sử dụng ma túy, T và H1 đồng ý. Lúc này, K gọi điện qua ứng dụng Z đến tài khoản “Chung Ếch” cho C hỏi mua 01 chỉ ma túy “ke” với giá 1.500.000 đồng và bảo C mang đến quán cho K. Khi K và Q về đến quán xăm của K được một lúc thì C mang ma túy đến, K ra nhận ma túy mang vào quán, lấy đĩa sứ để trên mặt đệm trong phòng đổ ma túy ra đĩa, rồi lấy thẻ căn cước công dân mang tên Bùi Văn L và cuốn ống hút bằng tờ tiền 10.000 đồng, bật loa, đèn nháy để sử dụng ma túy. Khi K, Q sử dụng ma túy được một lúc thì T, H1 đến và cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ 30 ‘cùng ngày, khi mọi người đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

* Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, lắp sim số 0974.213.115 thu giữ của K, xác định:

  • Tại phần danh bạ có lưu số điện thoại 0399.809.xxx là “Chung Ếch”. K khai nhận đó là số điện thoại của C bán cho K 01 chỉ ma túy “Ke” vào chiều ngày 23/6/2024 để K mời Q, H1, T sử dụng.
  • Tại phần ứng dụng Zalo có tài khoản của “Chung Ếch”. K khai nhận liên hệ mua ma túy của C qua ứng dụng Zalo. Sau khi mua được ma túy thì K đã xoá các nội dung liên quan đến việc mua ma túy của C.
  • Tại phần ứng dụng Messenger thể hiện việc K liên hệ với Q, H1, T.

* Cơ quan điều tra đã yêu cầu nhà mạng viễn thông cung cấp thông tin chủ thuê bao di động số 0399.809.113, xác định là anh Đặng Duy H3, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam. Anh H3 trình bày: Anh là người đăng ký chính chủ và sử dụng số điện thoại 0399.809.xxx khoảng 10 năm nay và không quen biết Bùi Văn K.

* Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 túi niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B. Bên trong có vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật hoàn lại sau giám định. Đối với căn cước công dân số [...] là của Bùi Văn L, sinh năm 2002, trú tại xóm K, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình để quên tại quán của K. Anh L không biết các đối tượng sử dụng căn cước công dân của anh để sử dụng trái phép chất ma túy. Nay anh đề nghị được nhận lại căn cước công dân trên.
  • 01 phong bì thư có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B. Bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng hoàn lại sau giám định.
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus của Bùi Văn K.
  • 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 đèn nháy của Bùi Văn K.

Quá trình điều tra, truy tố, Bùi Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên Cáo trạng số: 153/CT-VKSBN-P1 ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội. Khoảng 12 giờ ngày 23/6/2024, Bùi Văn K rủ Quách Xuân T1, Quách Văn H1, Quách Văn Q về quán “K xăm Hòa Bình” của K tại khu S, phường N, thành phố B để sử dụng ma túy. K mua ma túy của đối tượng có zalo tên “C ếch” rồi chuẩn bị tất cả dụng cụ sử dụng ma túy gồm đĩa sứ, ống hút bằng tờ tiền 10 nghìn đồng, căn cước công dân mang tên Bùi Văn L rồi bật loa, đèn nháy để cùng T, H1, Q sử dụng ma túy. Bị cáo không thỏa thuận về việc chia tiền sau khi sử dụng với các đối tượng khác. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố; sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Bùi Văn K từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/6/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy, 01 đĩa sứ và 01 vỏ túi nilong màu trắng còn lại sau giám định. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 10.000đ, 01 loa; 01 đèn nháy; 01 điện thoại Iphone 8 plus thu giữ của K. Trả lại anh Bùi Văn L 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn L.

Bị cáo Bùi Văn K không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Bùi Văn K đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng cũng không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập, đã có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 30 ngày 23/6/2024, tại quán K1, địa chị số A khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do Bùi Văn K đang thuê trọ của chị Đàm Thị B. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Bùi Văn K có hành vi mua ma túy, chuẩn bị công cụ cho Quách Văn H1, Quách Xuân T, Quách Văn Q sử dụng trái phép chất ma túy. Khi K, H1, T, Q đang sử dụng ma túy, còn lại 0,04444 gam ma túy Ketamine thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Bùi Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có công cứu người đuối nước có xác nhận của UBND xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; ông nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần mở lượng khoan hồng, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn khung hình phạt quy định.

Tuy nhiên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, sống có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định, mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[4] Vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, 01 đĩa sứ, 01 vỏ túi nilong cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 10.000 đồng, 01 loa, 01 đèn nháy, 01 điện thoại Iphone 8 plus bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước; đối với 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn L cần trả lại cho anh Bùi Văn L.

[5] Liên quan trong vụ án:

  • Đối với Quách Xuân T, Quách Văn H1, Quách Văn Q có hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 08/10/2024 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức Cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.
  • Đối với đối tượng tên C theo K khai nhận là người bán ma túy cho K, K không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của C. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
  • Đối với Đàm Thị B là người cho K thuê nhà không biết việc K cho các đối tượng sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không sử lý là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Văn K 5 (Năm) năm 6 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2024.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Bùi Văn K 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, 01 đĩa sứ, 01 vỏ túi nilon màu trắng và trả lại anh Bùi Văn L 01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn L, tất cả được đựng trong 01 túi niêm phong ghi chữ: Kính gửi Cơ quan CSĐT (PC04) – công an tỉnh B. Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Bùi Văn K sn 1992 ở xóm B, Â, L, Hòa Bình Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy kèm theo KLGĐ số 1551/KL-KTHS ghi ngày 25/6/2024 của phòng KTHS-công an tỉnh B và biên bản giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 25/6/2024.

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 8 plus đã qua sử dụng; 01 loa nghe nhạc màu đen; 01 đèn nháy đều của Bùi Văn K; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được đựng trong 01 phong bì niêm phong đã được gửi tại kho bạc nhà nước tỉnh B theo biên bản giao nhận tài sản số 15/2024/BBBG-KBBN ngày 27/6/2024 theo mã tài sản: 111000014042A và KLGĐ số 1551/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của phòng KTHS-công an tỉnh B và biên bản giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 25/6/2024.

    (Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 16/2025 ngày 23/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

  3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn K phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh (Phòng ma tuý);
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; NTGTT khác;
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ngô Bá Tiến - Trương Ngọc Cường

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng T2.

Các hội thẩm nhân dân: ông Ngô Bá T3 và ông Trương Ngọc C1.

Căn cứ vào các điều 109, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.

Tạm giam bị cáo: Bùi Văn K, sinh năm 1992; nơi thường trú: xóm B, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Bùi Văn K 5 (Năm) năm 6 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Điều 2.

Trại tạm giam Công an tỉnh B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam, PC 10 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger