Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————————

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày: 29/10/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân
  • Ông Hoàng Sỹ Lĩnh
  • Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
  • Đại diện Viện kiểm sát huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

K'H- sinh ngày 20 tháng 6 năm 2002 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Cơ Ho; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông K' Tư (đã chết) và bà K' Dơn (sinh năm 1962); vợ, con: chưa.

Tiền án: tại Bản án số 42/2023/HSST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không.

Nhân thân: tại Bản án số 06/2019/HSPT ngày 18/10/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 13/2020/HSST ngày 11/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 18/10/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L xử lý vi phạm hành chính, phạt tiền 2.500.000 đồng theo quyết định số 3637/QĐ-XPCH ngày 18/10/2022 về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 18/10/2022, Ủy ban nhân dân huyện L xử lý vi phạm hành chính, phạt tiền 3.000.000 đồng theo quyết định số 3644/QĐ-XPCH ngày 18/10/2022 về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 28/10/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường 06 tháng theo quyết định số 3655/QĐ-PTT ngày 28/10/2022 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 16/7/2024. Có mặt.

- Bị hại: ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 2006; địa chỉ: tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông K' D, sinh năm: 2006; địa chỉ: tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Thái S, sinh năm: 1986; địa chỉ: tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

K’Hvà K'D là hai đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định đã cùng nhau thực hiện hai lần trộm cắp tài sản tại tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: vào khoảng hơn 13 giờ ngày 14/7/2024, K' H đang ngồi chơi game tại quán I thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L, K' D đến gặp và rủ K'Hđi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì K'Hđồng ý. Sau đó, K' D điều khiển xe mô tô biển số 49D1-481.55 nhãn hiệu Honda loại Wave RS chở K’Hđi đến khu vực tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực bãi để vật dụng xây dựng của ông Nguyễn Văn T, cả hai thấy có nhiều bộ giàn giáo xây dựng nên nảy sinh lấy trộm giàn giáo mang đi bán. Sau đó, K'Hđi vào bên trong lấy 02 khung giàn giáo bằng kim loại, còn K' D đi xung quanh bên ngoài đường để cảnh giới. Khi K'Hmang 02 khung giàn giáo ra ngoài đường thì K'D đến và bỏ hai khung giàn giáo lên xe chở đi bán. Khi đến điểm thu mua phế liệu thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L, K'Hvào để bán thì gặp ông Nguyễn Tự X, nhưng ông X không mua nên K'Hđã gửi hai khung giàn giáo tại đây. Sau đó, K'D tiếp tục chở K'Hquay lại nhà ông T để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Tại đây, K'Hmột mình đi vào trong kho của nhà ông T lấy 01 chân của máy tời bằng kim loại mang ra vị trí của K' D đứng đợi. Sau đó, K' D chở K'Hcùng chân máy tời đến điểm thu mua phế liệu cạnh quán C1 thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L. Tại đây, K'Hđứng bên ngoài chờ, còn K'D mang khung đỡ máy tời bán cho ông Nguyễn Thái C với giá 150.000 đồng. Sau đó, K' D ra đưa cho K'Hsố tiền 150.000 đồng, K'Hchia cho K'D 65.000 đồng, số tiền còn lại K'Hgiữ lại. Toàn bộ số tiền trên K’Hvà K' D đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: vào khoảng 13 giờ ngày 16/7/2024, K' D tiếp tục rủ K'Hđi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì K'Hđồng ý. Sau đó, K' D điều khiển xe mô tô biển số 49D1-481.55 nhãn hiệu Honda loại Wave RS, chở K’Hđi đến khu vực nhà kho của ông Nguyễn Văn T không có người trông coi. Tại đây K' D đứng ngoài cảnh giới, còn K'Hđi vào bên trong lấy 02 khung giàn giáo bằng kim loại ra phía ngoài đợi K' D chạy xe đến chở đi bán, trong lúc chờ K'D thì bị người dân phát hiện, nên đã giữ K'Hcùng tang vật, còn K' D chạy xe bỏ đi. Sau đó, Cơ quan Công an đến lập biên bản phạm tội quả tang với K' Hợp, tạm giữ tang vật và đưa K'Hvề trụ sở làm việc. Quá trình làm việc K'Hvà K' D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) khung kim loại đỡ máy tời bê tông, 04 (một) khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo), 01 xe mô tô biển số: 49D1-481.55 nhãn hiệu Honda loại Wave RS.

Tại Bản kết luận định giá số 56/KLĐG ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L có kết luận: 01 khung kim loại đỡ máy tời bê tông (dùng trong xây dựng) trọng lượng 12kg; 01 thanh giàn giáo hình chữ U bằng kim loại, màu cam, kích thước 1,63m x 1,3m, trọng lượng 11kg; 01 thanh giàn giáo hình chữ U bằng kim loại, màu cam, kích thước 0,95m x 1,83m, trọng lượng 15kg tại thời điểm định giá ngày 14/7/2024 có giá trị 470.000 đồng.

- 01 thanh giàn giáo hình chữ U bằng kim loại, màu cam, kích thước 1,28m x 1,52m, trọng lượng 13kg; 01 thanh giàn giáo hình chữ U bằng kim loại, màu cam, kích thước 1,28m x 1,52m, trọng lượng 15kg tại thời điểm định giá ngày 16/7/2024 có tổng giá trị 280.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: ngày 12/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho ông Nguyễn Văn T 01 khung kim loại đỡ máy tời bê tông; 04 khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo). Trả lại cho bà K' Nguyên 01 xe mô tô biển số: 49D1-481.55 nhãn hiệu Honda loại Wave RS.

Về phần trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Ông Nguyễn Thái C không yêu cầu bồi thường số tiền 150.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 160/CT-VKSLH ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố K'Hvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo xác định quá trình điều tra không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo K'Hphải chịu mức hình phạt tù giam từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi và quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo K'Hvà người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhằm mục đích để có tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 14/7/2024 và ngày 16/7/2024 tại khu vực kho của ông Nguyễn Văn T thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L bị cáo cùng với K' D đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm 04 thanh giàn giáo hình chữ U bằng kim loại và 01 khung đỡ máy tời bê tông bằng kim loại, có tổng giá trị 750.000 đồng của ông T.

Mặc dù tài sản trộm cắp có giá trị 750.000 đồng, nhưng tại Bản án số 42/2023/HSST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích; đến ngày 14/7/2024 và ngày 16/7/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng phạm luật.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Mặc dù K' D là người trực tiếp rủ bị cáo trộm cắp tài sản bán để lấy tiền tiêu xài, nhưng khi tiếp nhận ý chí từ K'D, bị cáo đã không từ chối mà đồng ý cùng thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, liều lĩnh được thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo lợi dụng lúc sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu đã lén lút trộm cắp tài sản là 01 khung kim loại đỡ máy tời bê tông; 04 khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo). Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét nhân thân bị cáo là người có nhân thân không tốt: ngày 18/10/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/10/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L ra quyết định xử lý hành chính không lập biên bản với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 18/10/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L ra quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/10/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại thị trấn trong thời hạn 06 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 24/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích; đến ngày 14/7/2024 và ngày 16/7/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa là có cơ sở, cần phải có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống biết tuân thủ pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Như nhận định trên, bị cáo có nhân thân không tốt, nhiều lần bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, với việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà cho rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là không phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo là người không có công việc làm ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái C không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với hành vi của K' D là người chủ động rủ K’Hthực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 14/7/2024 và ngày 16/7/2024 có tổng giá trị 750.000 đồng. Tuy nhiên, hành vi trộm cắp tài sản trên của K' D chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 73 Bộ luật Hình sự. Do đó, ngày 12/9/2024, Công an huyện L đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 188/QĐ-XPHC xử phạt K'D với số tiền 2.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

[9] Đối với ông Nguyễn Thái C đã mua 01 khung kim loại đỡ máy tời bê tông từ K'Hvà K' D; do ông C không biết đây là tài sản do K’Hvà K’D trộm cắp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không xem xét xử lý ông C về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng: ngày 12/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 2261/QĐ-CQĐT bằng hình thức trả lại 01 xe mô tô biển số: 49D1-481.55 nhãn hiệu Honda loại Wave RS cho chủ sở hữu bà K N và trả lại 01 khung kim loại đỡ máy tời bể tông (dùng trong xây dựng) trọng lượng 21kg; 01 khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo), kích thước (1.63 x 1.3) mét, trọng lượng 11kg; 01 khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo), kích thước (0.95 x 1.83) mét; 01 (một) khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo), kích thước ( 1.28 x 1.52) mét, trọng lượng 13kg; 01 khung kim loại rỗng, hàn với nhau thành hình chữ U, màu cam (tên thường gọi là giàn giáo), kích thước (1.28 x 1.52) mét, trọng lượng 15kg cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn T là có cơ sở.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo K’Hphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: bị cáo K'H09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2024.

  3. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
  4. - Buộc bị cáo K'Hphải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND H. Lâm Hà;
  • - Công an H. Lâm Hà;
  • - Thi hành án;
  • - Bị cáo; Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Phước Minh Phong

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

bị cáo bị Tòa án nhân dân xử phạt 9 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 06 tháng 3 năm 2024). Thay mặt HĐXX, tôi giải thích cho bị cáo quy định về án treo Trong thời gian thử thách, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhằm mục đích để có tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 14/7/2024 và ngày 16/7/2024 tại khu vực kho của ông Nguyễn Văn T thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L bị cáo cùng với K’ D đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm 04 thanh giàn giáo hình chữ U bằng kim loại và 01 khung đỡ máy tời bê tông bằng kim loại, có tổng giá trị 750.000 đồng của ông T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger