Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Thao

Ông Vũ Văn Khang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 404/TB-TA ngày 03 tháng 7 năm 2024 với bị cáo:

Lương Văn V, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1992 tại Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L và bà Lương Thị V1; có vợ là Cư Thị N và 04 con; tiền án: Tại Bản án số 50/2015/HSST ngày 12/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 41/2020/HS-ST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích); tiền sự: Tại Quyết định 58/2019/QĐ-TA ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng; nhân thân: Tại Bản án số 31/2014/HSST ngày 28/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 23/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/02/2024 (theo Quyết định tạm giữ và lệnh tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy); có mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1972; địa chỉ: A Đ, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Chị Lương Thị T, sinh năm 1993; địa chỉ: E Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  3. Bà Đàm Thị T1, sinh năm 1959; địa chỉ: 4 L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Văn P, sinh năm 1969; địa chỉ: B Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Vũ Trọng K, Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 26/8/2023, Lương Văn V và Vũ Văn H (sinh năm: 1982, địa chỉ: khu A, H, K, Hải Dương) rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 10 giờ, khi cả hai đi đến cửa hàng vật liệu xây dựng tại của bà Nguyễn Thị L1 (sinh năm: 1972, địa chỉ: A Đ, M, N, Hải Phòng) thì H giả vờ vào hỏi mua keo 502 để bà L1 mất tập trung còn V đi vào khu vực bàn làm việc bên trong xem có tài sản gì có giá trị thì lấy. Khi vào bên trong, V phát hiện ở ngăn dưới tủ kính bán hàng có 01 điện thoại SamSung Galaxy A12 màu xanh nên đã lấy giấu vào túi quần sau đó cả hai bỏ đi. Đến 17 giờ cùng ngày, H và V mang điện thoại trên đến cửa hàng số 20 Chùa Hàng bán được được 900.000 đồng (số tiền trên cả hai dùng để chi tiêu sinh hoạt cá nhân).

Khoảng 17 giờ ngày 28/8/2023, khi V đang ở phòng trọ tại số B N, M, Ngô Q, Hải Phòng thì Nguyễn Thanh L2 (sinh năm: 1989, địa chỉ: thôn A, xã G, V, Hải Phòng) đến rủ V đi trộm cắp tài sản, V đồng ý. Lịch điều khiển xe máy YAMAHA Sirius màu đỏ đen, BKS 15K1-338.34 chở V đi quanh các tuyến phố để thấy ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Đến khoảng 18 giờ 45 cùng ngày, L2 và V đến khu vực Đ, H, Hải Phòng phát hiện nhà chị Lương Thị T (sinh năm: 1993, địa chỉ E Đ, Đ, H, Hải Phòng) tầng một mở cửa không có người, V xuống xe đi vào trong nhà phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO để trên mặt bàn uống nước nên đã lấy điện thoại rồi chạy ra ngoài lên xe của L2 đang chờ sẵn rồi cả hai bỏ đi. Đến khoảng 19 giờ, V và L2 đi đến khu vực Lê Thánh T2, M phát hiện nhà bà Đàm Thị T1 (sinh năm: 1959, địa chỉ 4 L, M, N, Hải Phòng) cửa nhà không khóa, không có ai ở trong nhà. V bảo L2 đứng chờ sẵn ở bên bờ mương đối diện còn V đi bộ sang nhà bà T1 để trộm cắp tài sản. Khi vào nhà bà T1, V phát hiện trên ghế có 01 điện thoại REDMI màu xanh, V lấy chiếc điện thoại trên rồi chạy ra ngoài lên xe của L2 đang chờ sẵn rồi cả hai tẩu thoát. Đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 28/8/2023, V và L2 mang 02 chiếc điện thoại trộm cắp được đến đường L, Ngô Quyền bán thì bị chị Lương Thị T phát hiện và trình báo với Cơ quan Công an. Công an quận N đã yêu cầu V và L2 về trụ sở Công an quận N và triệu tập Vũ Văn H lên để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn V, Nguyễn Thanh L2, Vũ Văn H giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, 01 điện thoại thoại REDMI màu xanh và 01 xe máy YAMAHA Sirius màu đỏ đen, BKS 15K1 - 338.34 và khai nhận hành vi như đã nêu trên. Ngày 29/8/2023, anh Đào Văn P (sinh năm: 1969, địa chỉ: B Chùa H, Hồ N, L, Hải Phòng) chủ quán cầm đồ 20 Chùa Hàng tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại S Galaxy A12 màu xanh.

Đồ vật tài sản tạm giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã trả lại cho các bị hại: 01 chiếc điện thoại OPPO A15 cho chị Lương Thị T, 01 chiếc điện thoại Redmi Note 7 cho bà Đàm Thị T1, 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A12 cho bà Nguyễn Thị L1.

Tại Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận đến thời điểm bị xâm hại 01 điện thoại S A12 có giá 1.500.000 đồng

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận đến thời điểm bị xâm hại 01 chiếc điện thoại Redmi note 7 có giá trị 850.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 có giá 1.450.000 đồng

Tại Kết luận giám định số 1188/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K1 - C kết luận xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 15K1-338.34, có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá hoặc sửa chữa các ký tự, chủ xe là Nguyễn Thanh L2.

Tại Cáo trạng số 129/CT-VKSNQ ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Lương Văn V về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, tình tiết định khung hình phạt theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng; rút một phần đề nghị truy tố, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn V từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tại phiên tòa, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/8/2023 Lương Văn V và Vũ Văn H có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 màu xanh có giá trị 1.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị L1 tại số nhà A Đ, M, Ngô Q, Hải Phòng. Ngày 28/8/2023, Lương Văn V lại cùng Nguyễn Thanh L2 lén lút chiếm đoạt tài sản 02 điện thoại có giá trị 2.300.00 đồng (gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 có giá trị 1.450.000 đồng của chị Lương Thị T tại số nhà E Đ, Đ, H, Hải Phòng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 7 có giá trị 850.000 đồng của bà Đàm Thị T1 tại số nhà D L, M, N, Hải Phòng). Tổng giá trị các tài sản bị cáo Lương Văn V đã chiếm đoạt là 3.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lương Văn V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[4] Bị cáo có 2 tiền án đều về tội trộm cắp tài sản đều chưa xóa án tích, lần phạm tội tại Bản án số 41/2020/HS-ST ngày 25/11/2020 xác định là tái phạm nguy hiểm nên đối với lần phạm tội này bị cáo Lương Văn V phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt tại điểm g “tái phạm nguy hiểm”.

- Về hình phạt:

[5] Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa; có 01 tiền sự đã chấp hành xong nên bị cáo có nhân thân xấu.

[6] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đều dưới 2 triệu đồng nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”. Do đó, bị cáo Lương Văn V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[9] Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo có nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[10] Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đào Văn P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 900.000 đồng về việc anh P mua điện thoại trộm cắp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

[11] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã trả lại cho các bị hại: 01 chiếc điện thoại OPPO A15 cho chị Lương Thị T, 01 chiếc điện thoại Redmi Note 7 cho bà Đàm Thị T1, 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A12 cho bà Nguyễn Thị L1. Việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về những vấn đề khác:

[13] Đối với hành vi của Nguyễn Thanh L2, hiện nay chưa xác định hiện đang ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định truy nã số 1240/QĐTN-ĐCSHS ngày 30/4/2024 và ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1244/QĐ-ĐCSHS ngày 30/4/2024 về hành vi Trộm cắp tài sản và tách vật chứng là xe máy Sirius màu đỏ đen BKS 15K1-338.34 của Nguyễn Thanh L2 sử dụng đi trộm cắp. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.

[14] Đối với Vũ Văn H cùng V trộm cắp điện thoại S trị giá 1.500.000 đồng, nhân thân H chưa có tiền án, tiền sự về tội xâm phạm sở hữu nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N không xem xét xử lý hình sự. Ngày 30/4/2024, Công an quận N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC ngày 30/4/2024 đối với Vũ Văn H về hành vi trộm cắp tài sản trên.Đối với Đào Văn P khi nhận mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy A12 màu xanh không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N không xem xét xử lý hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Lương Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn V 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Lương Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử trực tuyến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger