|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 155/2024/DS-DS
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Rạt
- Ông Nguyễn Thanh Hoàng
Thư ký phiên tòa: Kiều Thị Tùng Khương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Tư - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 896/2024/TLST- DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST - DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Ông Nguyễn Hoàng Trung N – Phó giám đốc Khối Quản lý và T cấu trúc tài sản. Địa chỉ: Lầu B, số B L, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N:
- Ông Nguyễn Tấn Vĩnh P, sinh năm 1983;
- Ông Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1990;
- Ông Trần Tuấn H, sinh năm 1989;
Cùng địa chỉ: Lầu B, số B L, Phường A, Quận C, Tp ..
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986 và bà Trần Thị P1, sinh năm 1986;
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Ông H có mặt; bị đơn ông H1 và bà P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 8 năm 2023 và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày:
Ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 đã cùng Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh H2 ký kết Hợp đồng cho vay số 707/2016/HĐTD/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016 cùng khế ước nhận nợ, chi tiết như sau: Số khế ước nhận nợ: Ngày 22/11/2016, số tiền giải ngân là 296.000.000đ, ngày giải ngân: 22/11/2016. Mục đích sử dụng vốn: Vay mua xe ô tô. Thời hạn cho vay: 60 tháng. Lãi suất phát vay: 7,99%/năm. Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ, ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 đã không thực hiện trả nợ, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ngày 10/04/2019, P3 đã gửi thông báo số 1176/PVB “về việc vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước hạn” đối với toàn bộ khoản vay của ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1.
Dư nợ khoản vay trên của ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 tạm tính đến ngày 28/06/2024 như sau: Gốc: 245.015.135 đồng; Lãi: 329.174.118 đồng (Trong đó: lãi trong hạn: 60.234.554 đồng; lãi quá hạn: 209.571.120 đồng; lãi phạt: 59.368.444 đồng).
Tổng cộng: 574.189.253 đồng (Bằng chữ: năm trăm bảy mươi bốn triệu một trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi ba đồng)
Số tiền ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 đã thanh toán cho P3 tạm tính đến ngày 28/06/2024 như sau: Gốc: 50.984.865 đồng; Lãi 13.755.991 đồng. Tổng cộng: 64.740.856 đồng (Bằng chữ: sáu mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng).
Về tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 đã ký Hợp đồng thế chấp số 707/2016/HĐBĐ/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016 để thế chấp tài sản là: xe ô tô tải thùng kín Nhãn hiệu: KIA, Số loại: MORNING TA 12G E2 MT-2; Số chỗ ngồi: 05 chỗ ngồi; Màu sơn: Trắng; Sốkhung: NYTB51M5GC089145; số máy: G4LAGP079899; Biển kiểm soát: 62A-062.37. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành Phố Hồ Chí Minh ngày 22/11/2016 theo quy định của pháp luật.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bằng đơn này, Ngân hàng TMCP Đ kính đề nghị Quý Tòa xem xét và phán quyết như sau: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 thanh toán cho P3 số tiền: 574.189.253 đồng (Bằng chữ: năm trăm bảy mươi bốn triệu một trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi ba đồng), bao gồm 245.015.135 đồng nợ gốc và 329.174.118 đồng nợ lãi (tạm tính đến hết ngày 28/06/2024); Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 707/2016/HĐTD/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016 và các Khế ước nhận nợ kể từ ngày 29/06/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Xe ô tô con hiệu KIA số loại MORNING TA 12G E2 MT-2, 05 chỗ, màu trắng, số khung RNYTB51M5GC089145, số máy G4LAGP079899, Biển kiểm soát 62A-062.37 và các tài sản hợp pháp khác của ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến gì về việc giải quyết vụ án cho Tòa án.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Quan điểm kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung: Ông H1 và bà P1 đã vi phạm hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ông bà với Ngân hàng TMCP Đ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng. Cụ thể: Buộc ông H1 và bà P1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 574.189.253 đồng (Bằng chữ: năm trăm bảy mươi bốn triệu một trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi ba đồng), bao gồm 245.015.135 đồng nợ gốc và 329.174.118 đồng nợ lãi (tạm tính đến hết ngày 28/06/2024).
Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 707/2016/HĐTD/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016 và các Khế ước nhận nợ kể từ ngày 29/06/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Nếu ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã ký kết và các tài sản hợp pháp khác của ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị P2 cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[1.3] Về thời hiệu và phạm vi giải quyết: Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu trả tiền thuộc trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên đối chiếu theo quy định Điều 155 Bộ luật dân sự nên không tính thời hiệu khởi kiện; Ngân hàng TMCP Đ có quyền khởi kiện theo quy định Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu ông H1 và bà P2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 574.189.253 đồng (Bằng chữ: năm trăm bảy mươi bốn triệu một trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi ba đồng), bao gồm 245.015.135 đồng nợ gốc và 329.174.118 đồng nợ lãi (tạm tính đến hết ngày 28/06/2024).
[2.1]. Xét Hợp đồng tín dụng số 707/2016/HĐTD/PVB-CNHCM,KHCN ngày 22/11/2016 giữa Ngân hàng P4 với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1, Hội đồng xét xử thấy rằng, hợp đồng trên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 và bà P1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H1 và bà P1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Tạm tính đến ngày 28/6/2024, tổng số tiền ông H1 và bà P1 còn nợ Ngân hàng TMCP Đ là 574.189.253 đồng (Bằng chữ: năm trăm bảy mươi bốn triệu một trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi ba đồng), bao gồm 245.015.135 đồng nợ gốc và 329.174.118 đồng nợ lãi. Do ông H1 và bà P1 vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng TMCP Đ đã khởi kiện buộc ông H1 và bà P1 phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 và bà P1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự, “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh” thấy rằng, có cơ sở để xác định ông H1 và bà P1 thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền trên và phải có nghĩa vụ trả số tiền trên cho Ngân hàng.
[2.2] Về lãi suất: Số tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 28/6/2024, trong đó lãi trong hạn là 60.234.554 đồng, lãi quá hạn là 209.571.120đồng, lãi phạt là 59.368.444 đồng. Do ông H1 và bà P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn từ ngày 10/9/2019 và buộc ông H1 và bà P1 phải trả lãi theo Điều 4 Hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông H1 và bà P1 phải trả là phù hợp với Điều 2 quy định về lãi suất và phí quá hạn của hợp đồng tín dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 29/6/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 707/2016/HĐTD/PVB-CNHCM,KHCN ngày 22/11/2016 cho đến khi ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 thanh toán xong khoản nợ.
[3] Về Hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông H1 và bà P1 đã thế chấp chiếc xe Ô tô hiệu KIA số loại MORNING TA 12G E2 MT – 2, 05 chỗ, mới 100%, màu trắng; số khung RNYTB51M5GC089145; Số máy G4LAGP079899; cho phía Ngân hàng PVB theo Hợp đồng thế chấp số 707/2016/HĐBĐ/PVB-CNHCM.KHCN. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với chiếc xe trên nhưng phía bị đơn không hợp tác, không mang xe đến theo yêu cầu của Tòa án nên không thể xem xét hiện trạng xe, Tòa án đã tiến hành xác minh ở Công an huyện Đ, tỉnh Long An xác nhận xe Ô tô trên hiện nay do ông Nguyễn Văn H1 đứng tên chủ sở hữu. Xét hợp đồng thế chấp xe Ô tô đảm bảo theo quy định pháp luật nên các bên phải thực hiện theo các nội dung đã thỏa thuận. Theo đó, trường hợp ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì tài sản thế chấp xe Ô tô số 707/2016/HĐBĐ/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016; đối với Xe ô tô con hiệu KIA, số loại MORNING TA 12G E2 MT – 2, 05 chỗ, mới 100%, màu trắng; số khung RNYTB51M5GC089145; Số máy G4LAGP079899; biển số kiểm soát 62A-062.37, do ông Nguyễn Văn H1 đứng tên chủ sở hữu sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp sau khi phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng số hợp đồng thế chấp số 707/2016/HĐBĐ/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016 nhưng không đủ tiền trả nợ theo hợp đồng tín dụng nói trên thì ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải trả thêm cho đủ số nợ theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
[4] Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải hoàn trả số tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà Ngân hàng P4 đã nộp là 5.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ được chấp nhận nên bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ các Điều 299, 303, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền gốc và lãi tính đến ngày 28/6/2024 là 574.189.253 đồng (năm trăm bảy mươi bốn triệu một trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi ba đồng), bao gồm 245.015.135 đồng nợ gốc và 329.174.118 đồng nợ lãi.
Kể từ ngày 29/6/2024 đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ tiền gốc và tiền lãi theo mức lãi quá hạn theo quy định tại hợp đồng tín dụng số 707/2016/HĐTD/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016.
1.2. Trường hợp ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 không trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp kê biên phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp số Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 707/2016/HĐBĐ/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016; đối với Xe ô tô con hiệu KIA, số loại MORNING TA 12G E2 MT – 2, 05 chỗ, mới 100%, màu trắng; số khung RNYTB51M5GC089145; Số máy G4LAGP079899; biển số kiểm soát 62A-062.37, chủ sở hữu/sử dụng là ông Nguyễn Văn H1.
1.3. Trong trường hợp sau khi phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng số hợp đồng thế chấp số 707/2016/HĐBĐ/PVB-CNHCM.KHCN ngày 22/11/2016 nhưng không đủ tiền trả nợ theo hợp đồng tín dụng nói trên thì ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải trả thêm cho đủ số nợ theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải trả cho TMCP Đ đã nộp là 5.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P1 phải chịu 26.967.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
3.2. Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 12.144.000 đồng (Mười hai triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) tạm ứng theo biên lai số 0006897 ngày 06/11/2023 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
4. Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Như |
Bản án số 155/2024/DS-DS ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 155/2024/DS-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đại Chúng "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Văn Hiện, Trần Thị Phương
