|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2024/DS-PT
Ngày: 28/3/2024
V/v: “Tranh chấp QSD đất; Yêu cầu hủy
giấy chứng nhận QSD đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Đắc Minh
2/ Ông Ngô Đức Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 759/2023/TLPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các bên đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Hồng N, sinh năm 1964; Địa chỉ: A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt). Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số A H, Phường 1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn H và Công sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt)
Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1969 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1969; (Có mặt) Cùng địa chỉ: 1 Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Mai Thu T, sinh năm 1975; Địa chỉ: 5 Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: G T, phường H, quận T, Thành phố H (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
3/ Ông Lê Minh H3, sinh năm 1990; (Có mặt)
4/ Bà Vương Thu T1, sinh năm 1991;
5/ Trẻ Lê Nhã Ngô Đ, sinh năm 2011;
6/ Trẻ Lê Nhã Gia H4, sinh năm 2013;
7/ Trẻ Lê Nhã Như Ý, sinh năm 2022;
Người đại diện theo pháp luật của trẻ Đ, trẻ H4 và trẻ Ý có ông Lê Minh H3, sinh năm 1990 và bà Vương Thu T1, sinh năm 1991; Cùng địa chỉ: 1 Kênh T, Tổ H, Khu phố E, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Đoàn Thị Hồng N là nguyên đơn.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn và lời khai của phía nguyên đơn bà Đoàn Thị Hồng N trình bày:
Bà Huỳnh Thị L là chủ sử dụng thửa đất tại địa chỉ A tổ C, phường A, quận T (nay có địa chỉ là A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngày 10/02/1993, bà L bán một phần đất có diện tích ngang 4m x dài 12,5m, tổng cộng 50m² cho bà Trần Thị H2 bằng giấy tay (theo giấy sang nhượng đất ngày 10/02/1993) và chừa lối đi chung giữa hai nhà, lối đi này là hẻm A Kênh T.
Năm 1994, bà L chết thì bà Đoàn Thị Hồng N là người tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất 148 Khu Ô. Khi bà Trần Thị H2 tiến hành xây dựng thì nguyên đon mới phát hiện phần đất thuộc lối đi chung có diện tích ngang 1,63m x dài 4,09m đã được bị đơn hợp thức hóa và Ủy ban ban nhân dân quận T đã cấp giấy chứng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bị đơn từ năm 2003 với diện tích được cấp là 60,1m².
Do đó, nguyên đơn yêu cầu: Công nhận phần đất diện tích 1,63m x 4,09m tại phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1 là lối đi chung; Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 444/2003 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 13/8/2003 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1.
Tại đơn sửa đổi bổ sung, yêu cầu khởi kiện ngày 12/9/2022, nguyên đơn yêu cầu: Công nhận phần đất có diện tích 9m² thuộc hẻm S Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nằm giữa nhà đất số A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và nhà đất số A Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 31/8/2022, đã được cấp cho bà
Trần Thị H2, ông Lê Văn H1 là lối đi chung; Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 444/2003 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 13/8/2003 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 641092, số vào sổ cấp GCN: CS03402 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/8/2022 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1.
Theo đơn và lời khai của phía bị đơn ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2 trình bày:
Năm 1993, ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2 có mua đất của bà Huỳnh Thị L tại địa chỉ không số, Tổ dân phố C, Khu phố F, Huỳnh Văn C, Phường A, quận T với diện tích 50m² (nay có địa chỉ mới 1 Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đất nằm trong vị trí hẻm cụt nên cuối năm 1993, ông H1 và bà H2 đã thỏa thuận với bà Huỳnh Thị L mua lại phần diện tích nhỏ phía trước nhà với giá 03 chỉ vàng 9999, hai bên không làm giấy mua bán mà chỉ thỏa thuận miệng và đã tiến hành thanh toán.
Năm 2003, ông H1 và bà H2 đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất số A Kênh T, phường P, quận T với diện tích 61m², ông H1 và bà H2 đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ. Hiện bị đơn đang tiến hành xây dựng, sửa chữa nhà đất trên và đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp phép xây dựng theo đúng diện tích được công nhận trong chủ quyền. Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
Về nguồn gốc nhà, đất số A Kênh T, phường P, quận T theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận số 444/2003 ngày 13/8/2003 của Ủy ban nhân dân quận T.
Theo hồ sơ lưu cấp Giấy chứng nhận do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận cung cấp, nguồn gốc đất số A Kênh T, phường P, quận T do bà Huỳnh Thị L sử dụng, sau đó sang nhượng lại cho bà Trần Thị H2 theo giấy tay ngày 10/02/1993 với diện tích 12,5m x 4m = 50m². Năm 1999, bà Trần Thị H2 và ông Lê Văn H1 kê khai, đăng ký nhà đất 1999 với diện tích 50m², diện tích xây dựng 50m², số tầng: 1, kết cấu: tường gạch, mái tôn. Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận của ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2 đề ngày 16/7/2003 được U, quận T nhận ngày 22/7/2003 với nội dung: “Nguồn gốc và quá trình sử dụng nhà ở, đất ở: mua đất giấy tay, nhà xây dựng 1993; tranh chấp trong quá trình sử dụng: không; số nhà mới: 108/10 đường K”.
Cơ sở cấp Giấy chứng nhận số 444/2003 ngày 13/8/2003 của Ủy ban nhân dân quận T: Căn cứ theo hồ sơ kê khai năm 1999, các giấy tờ, hồ sơ do ông Lê Văn H1, bà Trần Thị H2 tự khai nộp, Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận được UBND phường U, quận T xác nhận ngày 22/7/2003 và căn cứ các quy định pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận (Luật Đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành), ngày 13/8/2003 UBND quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 444/2003 đối với nhà, đất số A Kênh T, phường P thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 69 (BĐĐC) cho ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2 với diện tích 60,1m².
Về phần diện tích 9m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh số 15089/TTĐĐBĐ-VPĐD của Trung tâm đo đạc bản đồ lập năm 2022 do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cung cấp: Công văn số 3366/QLĐT-QH ngày 12/12/2022 của Phòng Quản lý đô thị cung cấp thông tin cụ thể như sau:
- + Về vị trí: Theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh số 15089/TTĐĐBIX VPĐĐ ngày 31/8/2022 do Trung tâm đo đạc bản đồ lập thể hiện nhà, đất số 108/10 Kênh Tân H5 thuộc một phần thửa đất số 25, tờ bản đồ số 55 Bản đồ địa chính chính quy 2005 phường P.
- + Về quy hoạch lộ giới qua các thời kỳ: Qua kiểm tra Danh mục lộ giới các tuyến đường, hẻm từ 12 mét trở xuống trên địa bàn quận T đã được duyệt qua các thời kỳ (từ năm 2008 đến nay), phần đất 9m² nêu trên không đưa vào quản lý và duyệt trị số lộ giới, việc có ý kiến liên quan đến nội dung đề nghị hủy Giấy chứng nhận số 444/2003 ngày 13/8/2003, UBND quận đề nghị Tòa án nhân dân thành phố giải quyết theo quy định pháp luật. Vì lý do bận công tác nên đại diện ủy ban nhân dân quận T đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử tại Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H trình bày:
Nguồn gốc pháp lý căn nhà số A Kênh T, phường P, quận T:
Về thông tin chủ sở hữu, quá trình đăng ký biến động công trình: Nhà đất số A Kênh T, phường P, quận T do ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2 là chủ sở hữu, sử dụng theo Giấy chứng nhận số 444/2003 ngày 13/8/2003 do UBND quận T cấp với diện tích khuôn viên = 60,1m², diện tích xây dựng = 44,8m², diện tích sử dụng = 44,8m².
Năm 2022, ông H1 và bà H2 được UBND quận T cấp Giấy phép xây dựng số 285/GPXD ngày 14/3/2022 với diện tích xây dụng tầng 1: 47,9m², tổng diện tích sàn xây dựng: 113,85m², số tầng: 3 tầng.
Ngày 18/12/2022, ông H1 và bà H2 nộp hồ sơ đề nghị cấp đổi hoàn công Giấy chứng nhận theo Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng do Công ty CPTVÐTTKXD Kiến Gia Phú lập, bản vẽ hiện trạng số: 02-07/2022/KGP-TP ngày 04/7/2022 do Công ty CP T2 ĐT TK XD Kiến Gia Phú lập với diện tích khuôn viên 59,6m², diện tích xây dựng 47,9m², diện tích sàn xây dựng 113,8m², số tầng: 3.
Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường P ngày 15/7/2022 tại đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất có nội dung: Tình trạng tranh chấp và khiếu nại về nhà, đất: “Có tranh chấp theo Thông báo thụ lý số 174/TB-TLVA ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (kèm Thông báo số 57/TB-TA ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố) Do Ủy ban nhân dân phường P xác nhận nhà đất đang có tranh chấp, ngày 27/7/2022, Chi nhánh VPĐKĐĐ quận T có công văn số 51T008/CNTP-DK&CGCN gửi Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cung cấp thông tin về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” của nhà đất trên, và cho biết cơ quan Tòa án có ngăn chặn việc ông H1 và bà H2 cấp đổi lại Giấy chứng nhận bổ sung thêm thông tin công trình xây dựng mới như trên không.
Ngày 10/8/2022, Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 4581/TATP-TDS về việc cung cấp thông tin vụ án với nội dung: Tại thời điểm hiện nay, Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh chưa nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào khác của đương sự trong vụ án về việc ngăn chặn ông H1 và bà H2 cấp đổi lại Giấy chứng nhận khác bổ sung thêm thông tin công trình xây dựng mới.
Căn cứ quy định pháp luật hiện hành, Sở T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03402 ngày 19/9/2022 cho căn nhà số A Kênh T, phường P, quận T.
Về thông tin thế chấp: Nhà hiện không có thế chấp.
Cơ sở pháp lý, trình tự thủ tục giải quyết cấp đổi hoàn công cho căn nhà số A Kênh T, phường P, quận T: Các căn cứ pháp lý để cấp đổi hoàn công cho căn nhà số A Kênh T, phường P, quận T: Điều 99 Luật đất đai năm 2013, Điều 31 và Điều 85 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ; Khoản 14 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ; Điều 7 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T3; Điều 9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT của Bộ T3; Thông tư 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ T3; Quyết định số 36/2017/QĐ-UBND ngày 17/08/2017 và Quyết định số
08/2021/QĐ-UBND ngày 29/04/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố; Quyết định số 614/QĐ-STNMT-VPĐK ngày 16/5/2022 của Sở T.
Ý kiến của Sở T:
Xác định Sở T cấp đổi hoàn công cho căn nhà số A Kênh T, phường P, quận T cho ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2 là đúng quy định pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận và hồ sơ lưu trữ.
Về việc nguyên đơn là bà Đoàn Thị Hồng N có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03402 ngày 19/9/2022 cho căn nhà số A Kênh T, phường P, quận T, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố và Tòa án các cấp căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình xét xử để xem xét giải quyết. Đại diện Sở T đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án trên tại Tòa án cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1489/2023/DS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Hồng N về việc:
Công nhận phần đất có diện tích 9m² thuộc hẻm S Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nằm giữa nhà đất số A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và nhà đất số A Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 31/8/2022, đã được cấp cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1 là lối đi chung.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 444/2003 do ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 13/8/2003 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 641092, số vào sổ cấp GCN: CS03402 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/8/2022 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1.
Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 28/8/2023, bà Đoàn Thị Hồng N làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi của gia đình bà, yêu cầu phúc xử lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
Ngày 08/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 6792/QĐ-VKS-DS đề nghị phúc xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và giữ yêu cầu kháng cáo, đòi sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 9m² là lối đi chung. Luật sư của nguyên đơn thì cho rằng, giấy mua bán giữa phía mẹ của nguyên đơn với bị đơn thể hiện ghi là 50m², nhưng giấy chứng nhận thì cấp 60,1m², như vậy thì còn thừa lại là 10,1m², nhưng phía nguyên đơn chỉ kiện 9m² là lối đi chung 9m², nguyên đơn xác định không có việc mua bán sang nhượng phần 9m² này. Luật sư đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo và khởi kiện của phía nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Phía bị đơn thì cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng quy định pháp luật và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Căn cứ vào các giấy tờ mua bán, hồ sơ, thủ tục cấp Giấy chứng nhận theo quy định, bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm trên cơ sở xác định nội dung đã phán quyết chưa phù hợp với các quy định pháp luật và chưa đúng với thực tế sử dụng đất cũng như thực tế về nguồn gốc, chưa có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện có việc chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp 9m² như phía bị đơn nại ra. Do vậy, Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của phía nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa nghe đương sự trình bày và nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị: Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị Hồng N và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo, kháng nghị hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị:
[2.1] Phía nguyên đơn cho rằng năm 1993 bà L (mẹ của nguyên đơn) là chủ sử dụng đất, có chuyển nhượng đất cho phía bị đơn diện tích 4m x 12,5m = 50m² theo giấy sang nhượng ngày 10/02/1993 không bao gồm phần đất 9m² tranh chấp là lối đi chung nêu trên vì phần đất này chừa ra để làm lối đi chung, lối đi này tiếp giáp phía sau nhà của phía nguyên đơn.
Phía bị đơn thì cho rằng phần đất bà L bán cho bị đơn nằm ở vị trí cuối hẻm là hẻm cụt, bị đơn muốn sử dụng cả phần đất 9m² nêu trên và đã thỏa thuận miệng với bà L để mua diện tích đất này với giá 3 chỉ vàng 9999, sau đó bị đơn đã xây dựng và hiện nay căn nhà mang số 108/10 kênh T, phường P, quận T đã trực tiếp quản lý, sử dụng, đăng ký, kê khai, nộp thuế đối với phần đất 50m² và đối với phần đất mua thêm 9m² từ năm 1993 đến nay.
Do không thống nhất về yêu cầu, nên các bên đương sự đã phát sinh tranh chấp.
[2.2] Xét thấy, đối với diện tích tranh chấp 9m² nêu trên có nguồn gốc xác định là của bà L chuyển nhượng 50m², sau đó bị đơn khai là chuyển nhượng thêm nên tổng diện tích theo giấy chứng nhận là 60,1m² đã được Sở T cấp giấy chứng nhận hoán đổi hoàn công.
Nguồn gốc đất nêu trên, các bên xác định phù hợp với các tài liệu đã được ghi nhận tại hồ sơ nhà đất. Tuy nhiên, phía bị đơn không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh đã có nhận chuyển nhượng thêm đối với diện tích 9m², mà nguyên đơn đã không thừa nhận việc này.
Căn cứ vào tờ đăng ký nhà đất năm 1999 của phía bị đơn có ghi diện tích đăng ký đất là 50m². Căn cứ đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở của bị đơn cũng ghi diện tích là 48m², được Ủy ban nhân dân phường U, quận T xác nhận vào ngày 22/7/2003 nhưng khi đi đo vẽ để cấp giấy chứng nhận thì diện tích khuôn viên đã lên 60,1m², trong đó có 9m² là lối đi mà các bên đang tranh chấp. Diện tích 9m² này đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận vào ngày 13/8/2003.
Khi nguyên đơn biết được việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2022 thì đã khiếu nại và phát sinh tranh chấp. Từ tháng 4/2022, Ủy ban nhân dân phường P biên bản hòa giải nhưng không thành. Đến tháng 5/2022, nguyên đơn làm đơn khởi kiện, Tòa án đã thụ lý vào ngày 16/5/2022. Đến ngày 19/8/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã cấp đổi giấy chứng nhận cho bị đơn cấp
đổi hoàn công. Việc cấp đổi này là trong tình trạng pháp lý nhà đang có tranh chấp nên việc cấp giấy chứng nhận nêu trên là chưa đúng với quy định của pháp luật.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo cũng như quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm về phần này.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1 phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên bà Đoàn Thị Hồng N không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Về chi phí đo vẽ, thẩm định: Bà N đã nộp xong.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đoàn Thị Hồng N và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 26; Điều 34, Điều 37, Điều 228, Điều 244 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015; Điều 32 Luật tố tụng Hành chính 2015; Khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai 1993; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Hồng N.
2/ Công nhận phần đất có diện tích 9m² thuộc hẻm S Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nằm giữa nhà đất số A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và nhà đất số A Kênh T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 31/8/2022 là lối đi chung của hai nhà.
3/ Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 444/2003 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 13/8/2003 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1.
4/ Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 641092, số vào sổ cấp GCN: CS03402 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/8/2022 cho bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1.
5/ Bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1 đến các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc điều chỉnh cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền theo bản án này.
6/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị H2, ông Lê Văn H1 phải nộp số tiền 300.000đồng. Hoàn trả cho bà Đoàn Thị Hồng N số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí DSST theo Biên lai thu số AA/2021/0002115 ngày 10/5/2022 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
7/ Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đoàn Thị Hồng N không phải chịu, hoàn trả cho bà Đoàn Thị Hồng N số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo theo Biên lai thu số AA/2022/0002423 ngày 04/10/2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
8/ Về chi phí đo vẽ, thẩm định: Bà N đã nộp xong.
9/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
10/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 155/2024/DS-PT ngày 28/03/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 155/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm
