Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hanh;

Ông Đinh Văn Luận.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2023/HSST ngày 6 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Đức P, sinh ngày 03/01/1986. Hộ khẩu thường trú: Xóm D, khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức P1, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Nguyên đơn dân sự:

  1. Công ty G1.
  2. Công ty L'OREAL.
  3. Đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của công ty G1 và công ty L'OREAL: Công ty L4, do ông Phạm Đức T làm giám đốc; địa chỉ: Tầng D nhà số A phố N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

  4. Công ty G2.
  5. Đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Công ty L5, do ông Trần Mạnh H1 làm giám đốc; ông Trần Mạnh H1 ủy quyền cho bà Phạm Thị Ngọc D; địa chỉ: P, tầng A I, số B, đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.

  6. Công ty I1;
  7. Công ty V3, INC;
  8. Đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của Công ty Il và Công ty V3, INC: Công ty L6; do ông Lê Xuân L làm giám đốc; địa chỉ: số A đường H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội ủy quyền cho bà Phạm Thị Hải Y; có mặt tại phiên tòa.

  9. Công ty G3.
  10. Đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Văn phòng Luật sư A H2, do ông Nguyễn Minh H3 làm Trưởng văn phòng. Địa chỉ: Số A, đường C, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh và Công ty TNHH MTV C2, do bà Trịnh Thúy H4 làm giám đốc; địa chỉ: O TS2-06.02, tầng F, T, Số C B, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

  11. Công ty H14 (gọi tắt HUGO BOSS);
  12. Công ty P5 (gọi tắt DIOR);
  13. Đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của công ty H14 và công ty P5: Công ty TNHH S1, do bà Nguyễn Thị Nhân H5 làm tổng giám đốc; địa chỉ: lầu B, Tòa nhà P, A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; ủy quyền cho ông Lê Minh T1 và bà Bùi Thị Thùy L1; có mặt tại phiên tòa.

  14. Công ty C3.
  15. Đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Công ty TNHH V4, do bà Võ Thị Minh T2 làm giám đốc; địa chỉ: số A Hồ V, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Đỗ Văn H6, sinh năm 1980. Trú tại: Khu H, phường V, thành phố B; vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1992. Trú tại: K, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Chị Khương Thị P2, sinh năm 1995. Trú tại: Số A, đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Chị Phạm Thị L2, sinh năm 1991. Trú tại: Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/7/2022, Đoàn kiểm tra của Đội quản lý thị trường số C4 phối hợp Đoàn kiểm tra liên ngành 389 tỉnh Bắc Ninh, phòng PC03 Công an tỉnh B, Công an thành phố B, Phòng Nghiệp vụ tổng hợp, Phòng Thanh tra pháp chế, Đội quản lý thị trường số A1 tiến hành kiểm tra kho hàng tại đường L, khu G, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do Nguyễn Đức P làm chủ. Quá trình kiểm tra phát hiện và tạm giữ số hàng hóa gồm 16 sản phẩm của 15 thương hiệu, cụ thể: Nước hoa nhãn hiệu Lancôme loại 100ml/chai: 1.728 chai; Kem trang điểm Hiisee loại 30g/tuýp: 25.920 tuýp; Nước xịt phòng nhãn hiệu Victoria's Secret, loại 250ml/chai: 9.192 chai; Sữa rửa mặt nhãn hiệu innisfree, loại 150ml/tuýp: 8.208 tuýp; Nước hoa nhãn hiệu Versace, loại 100ml/chai: 2.304 chai; Nước hoa nhãn hiệu Giorgio Armani, loại 100ml/chai: 4.416 chai; Nước hoa nhãn hiệu Dior, loại 100ml/chai: 1.632 chai; Nước hoa nhãn hiệu Victoria's Secret, loại 100ml/chai: 1.728 chai; Nước hoa nhãn hiệu Chanel, loại 100ml/chai: 4.128 chai; Nước hoa nhãn hiệu Hugo Boss, loại 100ml/chai: 384 chai; Nước hoa nhãn hiệu GUCCI, loại 100ml/chai: 480 chai; Kem tẩy da chết H8,loại 15g/tuýp: 3.840 tuýp; Kem trắng da V7 Dr.JART+, loại 50ml/lọ: 1.224 lọ; Nước hoa Hanlu, loại 50ml/chai: 7.920 chai; Dầu gội đầu Jiorniee, loại 250g/lọ: 3.300 lọ; Bộ S2, loại (3,8gx5)/bộ: 400 bộ.

Quá trình điều tra xác định: Hộ kinh doanh Nguyễn Đức P có địa chỉ tại Đường T, xóm B, khu H, phường V, thành phố B được phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố B cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 21A.8000382 từ tháng 4 năm 2020 do Nguyễn Đức P đứng tên chủ hộ kinh doanh, với ngành nghề: Bán buôn, bán lẻ hàng gia dụng; Bán mỹ phẩm, quần áo, đồ lót, túi xách, giầy dép.

Trước khi thành lập hộ kinh doanh, Nguyễn Đức P và vợ là Nguyễn Thị Q làm thuê tại cửa hàng đồ gia dụng ở cửa khẩu T3, tỉnh Lạng Sơn. Khi về Bắc Ninh thì P đã thành lập hộ kinh doanh cùng vợ và em ruột P là Nguyễn Thị Bích H9 để kinh doanh bán buôn, bán lẻ online trên mạng về mặt hàng đồ gia dụng như: Nồi điện, xoong điện, bếp điện, kệ bếp, đồ nhựa.... các loại cho các khách hàng trong và ngoài tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng tháng 6/2021, P thấy trên mạng xã hội facebook có nhiều người livetream bán nước hoa, mỹ phẩm (bán trực tuyến trên mạng) và khi xem livetream cũng có nhiều người hỏi mua do vậy P đã tự tìm hiểu và kinh doanh thêm mặt hàng nước hoa, mỹ phẩm. P thấy những người bán có nêu tên các sản phẩm cũng như giới thiệu về mẫu mã, thương hiệu của sản phẩm và giá cả của sản phẩm để người xem có thể đặt mua hàng trực tiếp trên kênh livetream. P lên mạng Internet tìm hiểu về các sản phẩm đó và thấy được các sản phẩm nước hoa rao bán đều là các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như: Gucci, V có xuất xứ từ Ý; Victoria's Secret có xuất xứ từ Mỹ; C, D, G, L3 có xuất xứ từ Pháp... các sản phẩm này hiện đang được bán tại Việt Nam với giá rất cao, hàng triệu đồng /1 sản phẩm và để bán được các sản phẩm phải được sự đồng ý uỷ quyền của các thương hiệu mới được bán, không phải bán tràn lan số lượng lớn qua hình thức bán trực tuyến trên mạng nên P biết các mặt hàng nước hoa được giao bán trên livetream là hàng giả mạo thương hiệu, mặc dù mẫu mã, hình thức giống nhưng có giá rất rẻ, chỉ bán với giá hai đến ba trăm nghìn đồng/1 sản phẩm, còn về chất lượng thì P chỉ biết các sản phẩm này có nhiều cồn nhanh bay hương hơn so với hàng chính hãng. Thấy việc đầu tư để kinh doanh các loại mặt hàng này thấp, nhiều người hỏi mua và có lợi nhuận cao nên P nảy sinh ý định kinh doanh bằng cách lên mạng tìm hỏi mua các dòng nước hoa, mỹ phẩm ...của các thương hiệu nổi tiếng nêu trên mua về bán kiếm lời.

Nguyễn Đức P sử dụng số điện thoại 0983.365.xxx đăng ký mạng zalo lấy tên “Cosmetich Q” rồi lên mạng vào trong các hội nhóm để tìm mua nước hoa, mỹ phẩm thì được 02 zalo “Anh kiếm nắng xuân” và “Mỹ phẩm phương gia” kết bạn. Qua trao đổi, P biết 02 zalo có tên ở trên kinh doanh các mặt hàng nước hoa, mỹ phẩm mang nhiều nhãn hiệu gồm: Gucci, V; Victoria's Secret; C, D1, Giorgio A, L3; Hugo Boss; Innisfree; V7 Dr.jart+; H8; H10; Hanlu; J; Vongee, trong đó: sản phẩm nước hoa giả các thương hiệu Lancôme; Versace; Giorgio Armani; Dior; C1; HugoBoss; G; Victoria's S có giá từ 20.000 đồng đến 21.000 đồng/1 chai; sữa rửa mặt giả thương hiệu Innisfree giá từ 4.000 đến 9.000 đồng/tuýp; kem V7 Dr.jart+ có giá khoảng 25.000 đồng/1 hộp; bộ S2 có giá từ 15.000 đồng đến 20.000 đồng/bộ; kem HIISEE có giá từ 1.000 đồng đến 1.300 đồng/tuýp; kem Heyxi có giá từ 700 đồng đến 800 đồng/1 tuýp; nước hoa H11 có giá từ 9.000 đồng đến 11.000 đồng/chai; dầu gội Jiorniee có giá từ 9.000 đồng đến 11.000 đồng/chai. Khi thanh toán tiền mua hàng thì phải quy đổi sang tiền Trung Quốc để thanh toán hoặc chuyển khoản bằng tiền Trung Quốc.

Từ tháng 6/2021 đến tháng 7/2022, P liên lạc và đặt mua nhiều sản phẩm nước hoa, mỹ phẩm (gồm 16 loại sản phẩm của 15 thương hiệu) của người có zalo “Anh kiếm nắng xuân” và “Mỹ phẩm phương gia” có nhãn hiệu Lancôme; Victoria's Secret; innisfree; Versace; Giorgio Armani; D1; C1; Hugo B; G và một số sản phẩm nội địa Trung Quốc có nhãn hiệu: Hiisee; Heyxi; Hanlu; Jiorniee; Vongee; V7 Dr.JART+ . Số hàng này, được người bán chuyển cho P về kho hàng tại đường L, khu G, phường V, thành phố B do P thuê của anh Đỗ Văn H6. Khi nhận hàng thì P không biết xe chở hàng từ đâu, nguồn gốc hàng hoá này như thế nào và toàn bộ hàng đều không có giấy tờ nguồn gốc.

Để thanh toán tiền mua nước hoa, mỹ phẩm của những người trên và thanh toán tiền mua đồ gia dụng ở Lạng Sơn, P nhờ Nguyễn Thị H7 thanh toán tiền bằng cách P cung cấp thông tin tài khoản thanh toán, số tiền Trung Quốc cần thanh toán. Khi H7 báo giá tiền quy đổi từ tiền Trung Quốc sang tiền Việt Nam và tổng số tiền cần thanh toán thì P chuyển khoản tiền từ tài khoản của P số 0981000406915 tại ngân hàng V5 đến tài khoản của H7 số 0981000409271 tại ngân hàng V5 hoặc dùng tài khoản của Nguyễn Thị Q (vợ P) số [...] tại ngân hàng V6 đến tài khoản của H7 số [...] tại ngân hàng V6.

Từ đầu năm 2021 đến tháng 7 năm 2022, P đã nhiều lần chuyển tiền cho H7, tổng số tiền là 9.894.477.400 đồng, trong đó: từ ngày 06/3/2021 đến ngày 20/7/2022 tài khoản số [...] chuyển khoản 19 lần tới tài khoản 106007101097 với tổng số tiền là 2.193.715.000 đồng; từ ngày 10/1/2021 đến 21/6/2022 tài khoản số 0981000406915 chuyển khoản 52 lần tới tài khoản số 0981000409271 với tổng số tiền là 7.700.762.400 đồng. Tuy nhiên, đến nay P không xác định được cụ thể lần chuyển tiền nào để thanh toán tiền mua đồ gia dụng, lần chuyển tiền nào để thanh toán tiền mua nước hoa, mỹ phẩm.

Sau khi mua được hàng, P tiếp tục lên mạng đăng thông tin bán nước hoa và mỹ phẩm với giá chênh từ 3% đến 5% so với giá mua. Khi khách hàng có nhu cầu mua hàng thì kết bạn Zalo với P để trao đổi, thoả thuận về số lượng, giá cả, địa điểm nhận hàng và hình thức thanh toán. Tiền bán hàng được thanh toán qua tài khoản số [...] tại ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Đức P. Trong quá trình bán hàng và trao đổi, Phú nhớ thông tin một số khách hàng có tên trên zalo là “Đen ở S”; “Hằng Đà N”; “Trung Trang TT”; “Tư Giải P3”; “Chị Việt Quất P4 Đắk Lắk”...Tuy nhiên, P không biết thông tin này có đúng với tên của người mua hàng hay không. Khi bán hàng cho những người này, P không ghi chép lại thông tin số lượng, giá bán. Do vậy, P không biết người mua nước hoa, mỹ phẩm của của P là ai, ở đâu và số lượng đã mua, bán là bao nhiêu.

Khi giao hàng cho khách, P chuyển hàng bằng xe khách và cho khách hàng thông tin về xe (đến nay P không rõ cụ thể xe nào) sau đó khách hàng tự liên hệ với nhà xe để lấy hàng. Đối với khách ở miền T, miền N thì P gửi xe khách giao cho Trần Văn H12 - là nhân viên của công ty TNHH V7 làm việc tại kho A1 ở số C đường G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội để H12 vận chuyển hàng bằng tầu hỏa vào các trạm trung chuyển tại ga Đ và ga S tại Bình Dương. Trước khi giao hàng cho H12 thì P báo cho H12 biết số lượng hàng chuyển và địa chỉ, điện thoại của người nhận hàng. Thông qua các tài liệu zalo được in ra từ zalo của P khi trao đổi mua bán nước hoa, mỹ phẩm với một số khách hàng sử dụng zalo có tên như: “Phương Daklak”; “Chị Viet Q1”; “Tư giai phong”; “Hằng Đà N”; “Trung Trang TT”, P xác nhận đã bán khoảng 124 thùng nước hoa, mỹ phẩm, tuy nhiên P không xác định được cụ thể từng loại hàng hoá đã bán. Số tiền P được hưởng lợi từ việc bán nước hoa, mỹ phẩm là 22.659.990 đồng.

Ngày 12/8/2021, lực lượng chức năng kiểm tra và thu giữ hàng hóa là nước hoa và mỹ phẩm ở kho của Nguyễn Đức P là hàng hóa do P mua của người sử dụng zalo có tên là “Anh kiếm nắng xuân” và “Mỹ phẩm phương gia” nhưng không có hóa đơn chứng từ, là hàng giả mạo nhãn hiệu của các nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam. Tổng số lượng hàng hóa là 76.804 sản phẩm, với số tiền là 818.492.000 đồng, trong đó với các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu: Lancôme; Victoria's Secret; innisfree; Versace; Giorgio Armani; Dior; CHANEL; Hugo Boss; GUCCI là 34.200 sản phẩm, với số tiền là 619.704.000 đồng và các sản phẩm nội địa nhãn hiệu Trung Quốc nhãn hiệu: HIISEE; Heyxi; Hanlu; Jiorniee; VONGEE; V7 Dr.JART+ (thương hiệu Hàn Quốc) là 42.604 sản phẩm, với số tiền là 198.788.000 đồng.

Ngày 14/9/2022, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Cục sở hữu trí tuệ - Bộ K và công Nghệ đề nghị cho ý kiến chuyên môn về hàng hóa có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu đối 16 loại sản phẩm hàng hoá mang tên thương hiệu: “Lancôme”, “HISSEE”, “Victoria's Secret", “innisfree”, “Heyxi", “V7 Dr.JART+”, “Hanlu”, “Jiorniee”, “Versace”, “Giorgo Armani”, “Dior”, “Chanel", "Hugo Boss", "Vongee", “Gucci” do Nguyễn Đức P kinh doanh.

Ngày 10/10/2022 và ngày 26/12/2022, Cục sở hữu trí tuệ đã có công văn phúc đáp số 9313/SHTT-TT; 11521/SHTT-TTTT, trong đó xác định: “16 loại sản phẩm hàng hoá hiện tại có sản phẩm thương hiệu V7 Dr.Jart+ là nhãn hiệu đăng ký quốc tế nhưng không có thông tin đại diện sở hữu công nghiệp tại Việt Nam, còn đối với các nhãn hiệu: HIISEE; Heyxi; Hanlu; J; V1 đang không được được đăng ký và bảo hộ tại Việt Nam”.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Đội Quản lý thị trường số C4 tỉnh Bắc Ninh, ngày 30/8/2022 Viện Khoa học sở hữu trí tuệ đã ban hành Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH383-22TC/KLGĐ, kết luận: “Các sản phẩm gắn nhãn hiệu Lancôme, Victoria's Secret, I, V2, Giorgio A, D1, C1, Hugo B, G đều là hàng hoá giả mạo đối với các nhãn hiệu Lancôme, Victoria's Secret, I, V2, Giorgio A, D1, C1, H, G được bảo hộ.”

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, ngày 30/12/2022, phòng K1 Công an tỉnh B đã ban hành Kết luận giám định số 164/KL-KTHS, kết luận: “Đối với các hàng hoá gắn thương hiệu: Innisfree; Dior; C1 (C; Bleu de C5); Hugo Boss đều là hàng giả mạo nhãn hiệu của các thương hiệu với nội dung giả về mác nhãn hiệu, bao bì sản phẩm. Đối với những hàng hoá này do không có bảng công bố chất lượng sản phẩm của các thương hiệu nên không thể giám định chất lượng của các sản phẩm có là hàng giả về chất lượng không. Với những thương hiệu còn lại do không có mẫu so sánh nên không đủ cơ sở để tiến hành giám định.”

Trên cơ sở yêu cầu định giá của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, ngày 12/6/2023 Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh đã ban hành kết luận định giá số 09/KL-HĐ, xác định: “Giá trị hàng hoá là 34.163.208.000 đồng, trong đó số hàng hoá giả mạo đối với 09 nhãn hiệu: Lancôme, Victoria's Secret, I, V2, Giorgio A, D1, C1, Hugo B, G được bảo hộ có trị giá là 33.468.960.000 đồng”.

* Về vật chứng thu giữ:

+ Sau khi trích mẫu để thực hiện giám định, Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ 75.259 sản phẩm của 16 loại mặt hàng trong 695 thùng giấy catton được niêm phong, trong đó: 32.729 sản phẩm là hàng giả nhãn hiệu của các tương hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam: Lancôme, Victoria's Secret, I, V2, Giorgio A, D1, C1, H, G được đóng trong tổng số 381 thùng giấy catton có dán tem niêm phong; 1.150 sản phẩm là hàng V7 Dr.JART+ (thương hiệu đăng ký bảo hộ quốc tế) được đóng trong 16 thùng giấy catton có dán tem niêm phong; 41.380 sản phẩm của H11; V1; J; H8; H10 được đóng trong 298 thùng catton có dán tem niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

+ Tạm giữ của P 01 chiếc điện thoại Iphone 11 đã qua sử dụng có số IMEI: 356590109846386.

Tại Bản cáo trạng số 93/CT-VKS-P2 ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đính chính số liệu “nước xịt phòng nhãn hiệu Victoria's Secret, loại 250ml/chai” là 9.192 chai chứ không phải 9.129 chai như trong Cáo trạng.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo P đã nộp số tiền 22.900.000 đồng để đảm bảo thi hành án tại Biên lai thu tiền số 0000035 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh ngày 27/11/2023.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức P thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc như Cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Nguyên đơn dân sự trình bày:

Đối với Công ty C3 thông qua đại diện là công ty TNHH V4; Công ty G3 S.R.L thông qua đại diện là công ty TNHH MTV Có và Văn phòng L7; Công ty L8, Công ty G1 S.P.A thông qua người đại diện là công ty L4; Công ty V3, INC thông qua đại diện là công ty L6; Công ty G2 S.P.A thông qua đại diện là Công ty L5 không yêu cầu bồi thường.

Đối với Công ty I1 thông qua đại diện là công ty L6, đề nghị: Theo khoản 2 điều 204 Luật SHTT, hãng I yêu cầu bị cáo P bồi thường tổn thất tài sản phải gánh chịu từ 8.208 tuýp sữa rửa mặt bị cáo P tàng trữ số tiền 1.805.760.000 đồng (tính theo giá 1 tuýp là 220.000 đồng).

Đối với Công ty P5 và Công ty H14 thông qua đại diện là công ty TNHH S1, đề nghị:

+ Dior yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 4.652.240.000 đồng, cụ thể: Thiệt hại vật chất: Hành vi tàng trữ 1.632 chai nước hoa đã làm tổn thất cơ hội kinh doanh của D1. Nên hãng có yêu cầu bồi thường thiệt hại là: 4.602.240.000 đồng (tính theo giá 1 chai là 2.820.000 đồng). Không có yêu cầu bồi thường về lợi nhuận ông P bán được sản phẩm ra ngoài thị trường.

Thiệt hại về uy tín: Căn cứ khoản 2 điều 205 luật sở hữu trí tuệ năm 2005, phía công ty P5 yêu cầu bị cáo P bồi thường 50.000.000 đồng.

+ Hugoboss yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền: 1.059.920.000 đồng, cụ thể: Thiệt hại vật chất: Hành vi tàng trữ 384 chai nước hoa đã làm tổn thất cơ hội kinh doanh của H13. Nên hãng có yêu cầu bồi thường thiệt hại là: 1.009.920.000 đồng (tính theo giá 1 chai là 2.630.000 đồng). Không có yêu cầu bồi thường về lợi nhuận ông P bán được sản phẩm ra ngoài thị trường.

Thiệt hại về uy tín: Căn cứ khoản 2 điều 205 luật sở hữu trí tuệ năm 2005, phía công ty H15 yêu cầu bị cáo P bồi thường 50.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 3 Điều 226; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức P số tiền 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất của Công ty I2, Công ty P5 và Công ty H14 do các công ty không đưa ra được tài liệu, chứng cứ về thiệt hại vật chất. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín, VKS đánh giá bị cáo có hành vi quảng cáo trên internet, mạng xã hội nên có ảnh hưởng đến uy tín của các thương hiệu, do đó, có căn cứ chấp nhận một phần về yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín của Công ty P5, Hugo B, đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường các cho các công ty này từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính 22.659.990 đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 22.900.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000035 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh ngày 27/11/2023.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số 381 thùng giấy catton có dán tem niêm phong đựng các mặt hàng của nhãn hiệu Lancôme, Victoria's Secret, I, V2, Giorgio A, D1, C1, Hugo B, G.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 đã qua sử dụng của bị cáo P.

Giao cho Cục quản lý thị trường tỉnh B để xử lý theo quy định của pháp luật số tài sản sau: 16 thùng giấy catton có dán tem niêm phong bên trong có chứa các mặt hàng giả mạo nhãn hiệu V7 Dr.JART+; 298 thùng catton có dán tem niêm phong bên trong có chứa các mặt hàng của H11; V1; J; H8; H10 được đóng trong 298 thùng catton có dán tem niêm phong.

Về những nội dung khác liên quan trong vụ án:

- Đối với Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị H7, Trần Văn H12, Khương Thị P2, Phạm Thị Lụa là người cùng kinh doanh mặt hàng đồ gia dụng, thanh toán tiền mua hàng, vận chuyển hàng nước hoa, mỹ phẩm bằng tàu hoả, người mua hàng của P không biết P kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu; trình độ hiểu biết pháp luật về sản phẩm còn hạn chế; trị giá hàng hóa mua thấp nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp.

- Đối với những người bán, người đặt mua nước hoa và mỹ phẩm của P nhưng, P không biết những người này là ai, ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Tranh luận lại với các yêu cầu của nguyên đơn dân sự, bị cáo cho rằng, số hàng của mình chưa bán ra thị trường nên chưa gây thiệt hại về vật chất. Bị cáo đồng ý quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và mức bồi thường thiệt hại về uy tín.

Đại diện các nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa không tranh luận gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận do hám lợi và thiếu hiểu biết nên đã phạm tội, nay đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo là con gia đình chính sách, có bố và ông nội đều là thương binh, bị cáo là lao động chính trong gia đình nin xin HĐXX mở lượng khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc bố mẹ và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người làm chứng, biên bản kiểm tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2021 đến tháng 7/2022, mặc dù không được sự ủy quyền hoặc cho phép kinh doanh các mặt hàng của các chủ sở hữu nhãn hiệu nhưng Nguyễn Đức P đã có hành vi mua, bán các hàng hóa giả mạo của các thường hiệu được bảo hộ tại Việt Nam với số lượng 34.200 sản phẩm tương ứng số tiền P bỏ ra mua là 619.704.000 đồng, gồm: Nước hoa nhãn hiệu LANCÔME loại 100ml/chai: 1.728 chai; Kem trang điểm nhãn hiệu HIISEE loại 30g/tuýp: 25.920 tuýp; Nước xịt phòng nhãn hiệu Victoria's Secret, loại 250ml/chai: 9.192 chai; Sữa rửa mặt nhãn hiệu innisfree, loại 150ml/tuýp: 8.208 tuýp; Nước hoa nhãn hiệu Versace, loại 100ml/chai: 2.304 chai; Nước hoa nhãn hiệu Giorgio Armani, loại 100ml/chai: 4.416 chai; Nước hoa nhãn hiệu Dior, loại 100ml/chai: 1.632 chai; Nước hoa nhãn hiệu Victoria's Secret, loại 100ml/chai: 1.728 chai; Nước hoa nhãn hiệu CHANEL, loại 100ml/chai: 4.128 chai; Nước hoa nhãn hiệu Hugo Boss, loại 100ml/chai: 384 chai; Nước hoa nhãn hiệu GUCCI, loại 100ml/chai. Tất cả các mặt hàng trên đều là giả mạo nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam. Tổng giá trị hàng hóa là 33.468.960.000 đồng.

[3] Bị cáo Nguyễn Đức P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, bán các hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến quyền sở hữu, sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu được bảo hộ tại Việt Nam. Do vậy, cần áp dụng pháp luật hình xử đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong giải đoạn chuẩn bị xét xử đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi bất chính; bị cáo thuộc diện gia đình có công với cách mạng, có cha đẻ và ông nội đều là thương binh do đó, bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, HĐXX nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt; lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS; nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn điều 65 BLHS về án treo, HĐXX thấy cần chiếu cố, khoan hồng cho bị cáo, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

[9] Đối với các Công ty C3; Công ty G3; Công ty L8, Công ty G1; Công ty V3, INC; Công ty G2 S.P.A không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[10] Công ty I1 thông qua đại diện là công ty L6, yêu cầu bị cáo P bồi thường tổn thất tài sản số tiền 1.805.760.000 đồng. Công ty P5Công ty H14 thông qua đại diện là công ty TNHH S1, đề nghị: Dior yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 4.652.240.000 đồng (trong đó: Thiệt hại vật chất 4.602.240.000 đồng; thiệt hại về uy tín 50.000.000 đồng); H13 yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 1.059.920.000 đồng (trong đó: Thiệt hại vật chất 1.009.920.000 đồng; thiệt hại về uy tín 50.000.000 đồng). HĐXX thấy, các mặt hàng giả mạo nhãn hiệu bị cáo P vẫn đang tàng trữ, chưa bán ra thị trường, chưa có đủ cơ sở để xác định giá trị thiệt hại thực tế. Phía các công ty là chủ sở hữu nhãn hiệu Innisfree, D1H13 cũng chưa đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho thiệt hại thực tế, do đó không có căn cứ chấp nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự về thiệt hại vật chất. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín, HĐXX thấy việc bị cáo mua số lượng hàng hóa lớn giả mạo nhãn hiệu thực hiện hành vi quảng cáo trên mạng internet có phần ảnh hưởng đến uy tín của nhãn hiệu, do đó đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín của D1H13 cần chấp nhận một phần.

[11] Về số tiền 22.659.990 đồng bị cáo khai được hưởng lợi từ hành vi bán các mặt hàng, do đó cần tịch thu để sung Ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 22.900.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000035 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh ngày 27/11/2023.

[12] Về xử lý vật chứng:

[13] Cần tịch thu tiêu hủy đối với với các mặt hàng giả mạo nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam bao gồm các nhãn hiệu Lancôme, Victoria's Secret, I, V2, Giorgio A, D1, C1, Hugo B, G được đựng trong 381 thùng giấy catton được dán kín niêm phong.

[14] Chiếc điện thoại Iphone 11 của bị cáo sử dụng để liên lạc, giao dịch mua bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, do đó cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[15] Đối với các sản phẩm của các nhãn hiệu: V7 Dr.JART+ (thương hiệu đăng ký bảo hộ quốc tế nhưng chưa có thông tin đăng ký bảo hộ tại Việt Nam) đóng trong 16 thùng giấy catton dán kín niêm phong; và các mặt hàng chưa được bảo hộ tại Việt Nam gồm: Hanlu; Vongee; J; Heyxi; Hiisee không có nguồn gốc xuất xứ đóng trong 298 thùng giấy catton dán kín niêm phong nên cần giao cho Cục quản lý thị trường tỉnh B để xử lý theo quy định của pháp luật.

[16] Về những nội dung khác liên quan trong vụ án:

[17] Đối với Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị H7, Trần Văn H12, Khương Thị P2, Phạm Thị Lụa là người cùng kinh doanh mặt hàng đồ gia dụng, thanh toán tiền mua hàng, vận chuyển hàng nước hoa, mỹ phẩm bằng tàu hoả, người mua hàng của P không biết P kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu; trình độ hiểu biết pháp luật về sản phẩm còn hạn chế; trị giá hàng hóa mua thấp nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp.

[18] Đối với những người bán, người đặt mua nước hoa và mỹ phẩm của P nhưng, P không biết những người này là ai, ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[19] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2, khoản 3 Điều 226; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022 ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Đức P 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Đức P cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự của Công ty I1 yêu cầu bị cáo P bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 1.805.760.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt vật chất số tiền 4.602.240.000 đồng của Công ty P5 và yêu cầu thường vật chất số tiền 1.009.920.000 đồng Công ty H14.

Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín của Công ty P5Công ty H14, buộc bị cáo Nguyễn Đức P bồi thường cho Công ty P5 CHRISTIAN DIOR 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); bồi thường cho Công ty H14 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành an, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo P nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính 22.659.990 đồng để sung Ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 22.900.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000035 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh ngày 27/11/2023; tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 381 thùng giấy catton được dán kín có dán tem niêm phong; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 đã qua sử dụng của bị cáo P.

Giao cho Cục quản lý thị trường tỉnh B 16 thùng giấy catton được dán kín có dán tem niêm phong và 298 thùng giấy catton được dán kín có dán tem niêm phong để xử lý theo quy định của pháp luật.

(Các vật chứng, tài sản trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 04/2024 ngày 06/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKS Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQANĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - UBND phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

  • Số bản án: 155/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN DUC P BI XET XU VE TOI XAM PHAM QUYEN SO HUU CONG NGHIEP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger