|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1547/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/6/2025 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2315/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4806/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1991
- Bị đơn: Ông Trần Thiện K, sinh năm 1992
Thường trú: Đường H, Khu phố M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
Thường trú: Đường H, Khu phố M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:
- Bị đơn ông Trần Thiện K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.
- Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông Trần Thiện K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 22/01/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình chồng. Ban đầu cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc bình thường. Tuy nhiên, đến khi bà M mang thai thì ông K thay đổi, không còn quan tâm, chăm sóc gia đình, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Từ đó, vợ chồng không còn tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống. Tháng 5/2023, bà M và con chung đã chuyển về nhà mẹ ruột sinh sống và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Hiện nay, bà M xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế và bà M cũng không muốn hòa giải, đoàn tụ nên yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà M và ông K có 01 con chung tên Trần Thiện P, sinh ngày 27/9/2019. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bà Lê Thị M có đơn xin vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án và xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà M yêu cầu được ly hôn với ông K. Về con chung: Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Thiện P, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Ông Trần Thiện K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.
4.1 Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
4.2 Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thiện K. Theo Kết quả xác minh của Công an phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông K có thường trú và đang cư ngụ tại Đường H, Khu phố M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Nguyên đơn bà M có đơn xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án.
Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[1.3] Bị đơn ông K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà M, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị M và ông Trần Thiện K tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/01/2016 và được Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, quận Thủ Đức cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10. Do đó, căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014, quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông K là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Xét thấy, trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, bà M cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông K vì tình cảm vợ chồng đã không còn, cuộc sống hôn nhân đã không còn hạnh phúc. Đồng thời, hiện nay, bà M và ông K cư trú ở 02 nơi khác nhau, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Điều này cho thấy, vợ chồng bà M, ông K đã không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương lẫn nhau. Cuộc sống vợ chồng giữa hai bên đã không còn tồn tại trên thực tế. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà M và ông K đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
[2.2] Về con chung:
Căn cứ Trích lục khai sinh (bản sao) số 774/TLKS-BS ngày 02/10/2019 do Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, quận Thủ Đức cấp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bà M và ông K có 01 con chung tên Trần Thiện P, sinh ngày 27/9/2019.
Theo Văn bản số 142/UBND-HC ngày 21/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thì cháu Phú hiện đang sống chung với bà M, điều kiện sống của cháu P được mẹ, ông bà ngoại chăm sóc và đang đi học tại Trường Mầm non Long Hưng A.
Hội đồng xét xử xét thấy, cháu P còn nhỏ tuổi, đang được mẹ chăm sóc và cho đi học, ông K không có ý kiến, yêu cầu về việc nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M, giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Bà M xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 8, 9, 19, 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị M.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị M và ông Trần Thiện K.
1.2 Về con chung: Bà Lê Thị M và ông Trần Thiện K có 01 con chung tên Trần Thiện P, sinh ngày 27/9/2019.
Giao con chung tên Trần Thiện P cho bà Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị M không yêu cầu ông Trần Thiện K cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị M xác định không có.
Bà Lê Thị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0044192 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị M đã nộp đủ án phí.
Bà Lê Thị M và ông Trần Thiện K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Châu |
Bản án số 1547/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1547/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
