|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 154/2024/HSST Ngày: 29/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
Ông Nguyễn Tý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 151/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn T; tên gọi khác: Bi, giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/3/2003, tại: Thành phố Đà Nẵng; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: B T, tổ D, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông, trình độ học vấn: Lớp 06/12; Con ông: Phan Văn N (sinh năm 1970) và bà: Nguyễn Thị N1 (không rõ).
Tiền án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2024, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Ngô Trung H, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số K đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Em Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2009. Đại diện hợp pháp của em Nguyễn Văn Đ: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1986. Cùng nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Em Trần Minh Đ1, sinh ngày 19/8/2008. Đại diện hợp pháp của em Nguyễn Văn Đ: Ông Trần P, sinh năm: 1964 và bà Lê Thị X, sinh năm: 1965. Cùng Nơi ĐKNKTT: Số K đường T, tổ A, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; cùng nơi ở hiện nay: P, nhà C, Khu C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Em Lê Xuân T1, sinh năm 2011. Đại diện hợp pháp của em Lê Xuân T1: Ông Lê Xuân T2, sinh năm 1980 và bà Đinh Thị Thu H1, sinh năm 1983. Cùng nơi cư trú: Tổ D phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Anh Trần Hữu Gia H2, sinh năm 2005; nơi cư trú: Số K đường Ô, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 02 giờ ngày 27/01/2024, Nguyễn Văn Đ, Trần Minh Đ1, Lê Xuân T1, Hồ Gia H3 đi lang thang từ khu vực Siêu thị G trên đường H, thành phố Đà Nẵng ngang qua nhà trọ tại địa chỉ G L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng thì thấy có nhiều xe máy để ở khu vực để xe của nhà trọ không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Nguyễn Văn Đ, Trần Minh Đ1, Lê Xuân T1 quay lại xem xét còn Hồ Gia H3 đứng ngoài sau đó bỏ đi. Trần Minh Đ1, Nguyễn Văn Đ vào kiểm tra thấy xe máy hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 76C1-716.88 của ông Ngô Trung H không khoá cổ nên cả hai vào nhà trọ dắt xe ra, T1 đứng bên ngoài cảnh giới, sau khi dắt xe ra đường, nhóm của Nguyễn Văn Đ dùng một cây kéo phá khoá, khởi động xe rồi cả nhóm mang xe đến nhà Trần Minh Đ1 tại địa chỉ 5 T, thành phố Đà Nẵng cất giấu. Sáng cùng ngày, Trần Hữu Gia H2 đến nhà Trần Minh Đ1 rủ Minh Đ1 đi chơi internet tại C T, thành phố Đà Nẵng. Tại tiệm internet Trần Hữu Gia H2 gặp Nguyễn Văn Đ, Hồ Gia H3, Nhật H4 và Nguyễn Văn Đ nói với cả nhóm cần tìm người bán giúp xe máy biển kiểm soát 76C1-716.88 và có nói với Trần Hữu Gia H2 tìm giúp. Trần Hữu Gia H2 lên Facebook và tìm được người có tài khoản Facebook tên “Bi Bi” là Phan Văn T nhờ bán giúp chiếc xe nói trên. T đồng ý đến địa chỉ C T, thành phố Đà Nẵng thì gặp Nguyễn Văn Đ và trực tiếp trao đổi việc tìm người bán xe giúp. T nhắn tin qua messenger với một người có tài khoản Facebook “Ken Lỏ” để hỏi về việc bán xe. Sau khi trao đổi “Ken Lỏ” yêu cầu chụp hình ảnh của xe. Nguyễn Văn Đ dẫn T đến nhà Trần Minh Đ1 để xem xe và chụp ảnh gửi qua cho “Ken Lỏ”. Quá trình xem xe, T hỏi Nguyễn Văn Đ về nguồn gốc của xe thì được Nguyễn Văn Đ nói là xe do nhóm của Nguyễn Văn Đ trộm cắp được. Biết rõ xe máy biển kiểm soát 76C1-716.88 là do trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý bán giúp cho Nguyễn Văn Đ. Sau đó, người có tài khoản Facebook “Ken Lỏ” hẹn T chiều gặp mặt giao dịch mua bán xe. Đến chiều cùng ngày, Phan Văn T, Nguyễn Văn Đ, Trần Minh Đ1, Lê Xuân T1, H5, Hồ Gia H3 gặp “Ken Lỏ” tại quán cà phê trên đường T, thành phố Đà Nẵng. Kiểm tra xe và trao đổi với T được biết xe không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc, ổ khoá điện bị phá nên “Ken Lỏ” biết xe do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với giá 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) thì nhóm của Nguyễn Văn Đ đồng ý. “Ken Lỏ” đưa tiền cho T sau đó T đưa tiền cho Nguyễn Văn Đ và được Nguyễn Văn Đ trả tiền công bán xe giúp là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Sau khi nhận được tiền xong T về nhà. Nhóm Nguyễn Văn Đ quay lại 309 Trần Cao V tiếp tục chơi internet
Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Phan Văn T về tội " Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có " theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 200.000đ của bị cáo Phan Văn T.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập đến.
- Ngoài ra, còn đề xuất xử lý về tiền án phí.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/01/2024 tại phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Phan Văn T mặc dù không hứa hẹn trước và biết rõ chiếc xe máy Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát 76C1-716.88 của anh Ngô Trung H, có giá trị 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) do trộm cắp mà có nhưng bị cáo T vẫn có hành vi giúp các đối tượng trộm cắp liên hệ để bán chiếc xe và hưởng lợi từ việc bán xe với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 (một) Xe máy Yamaha Sirius màu xám đen BKS 76C1-716.88, số khung: RLCUE 3740MY086958, số máy: E32VE310886, đăng ký lần đầu ngày 28/01/2021 có giá trị 9.500.000đ.
Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 25/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi vi phạm pháp luật. Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên T đã có hành vi giúp các đối tượng trộm cắp liên hệ để bán chiếc xe và hưởng lợi từ việc bán xe với số tiền 200.000đ. Hành vi của bị cáo T đã gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, tiếp tay cho các đối tượng trong việc trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo bồi thường cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T đầu thú, gia đình bị cáo có cha Phan Văn N bị khuyết tật vận động mức độ nặng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Trung H đã nhận số tiền 5.000.000₫ do gia đình bị cáo T bồi thường thiệt hại. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về vấn đề khác:
Đối với các đối tượng Nguyễn Văn Đ, Trần Minh Đ1, Lê Xuân T1 là những người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Văn Đ (14 tuổi 10 tháng 18 ngày), Trần Minh Đ1 (15 tuổi 04 tháng 09 ngày), Lê Xuân T1 (12 tuổi 06 tháng 08 ngày) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi Trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn Đ, Trần Minh Đ1 là có cơ sở.
Qua xác minh, đối tượng Lê Xuân T1 (12 tuổi 06 tháng 08 ngày) không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu và làm gì.
Đối với Trần Hữu Gia H2 khai nhận Nguyễn Văn Đ có nhờ H2 tìm người mua xe, H2 chỉ trực tiếp nhắn tin với bị cáo T nhờ bị cáo T bán xe giúp cho Nguyễn Văn Đ, còn quá trình trao đổi, mua bán xe do Nguyễn Văn Đ thực hiện, H2 không biết nội dung. Sau khi bán được xe, Trần Hữu Gia H2 được Nguyễn Văn Đ cho số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Trần Hữu Gia H2 khai không biết chiếc xe là do nhóm của Nguyễn Văn Đ trộm cắp mà có. Nhận thấy Trần Hữu Gia H2 có giúp Nguyễn Văn Đ liên lạc với bị cáo T để nhờ bán giúp chiếc xe nhưng qua lời khai của Trần Hữu Gia H2, Trần Minh Đ1, Nguyễn Văn Đ, Phan Văn T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án không đủ cơ sở để xác định tại thời điểm giúp liên lạc để bán xe, Trần Hữu Gia H2 biết chiếc xe là do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xem xét xử lý đối với Trần Hữu Gia H2 là có cơ sở.
Đối với các đối tượng Hồ Gia H3, Nhật H4, H5 và đối tượng có tài khoản Facebook “Ken Lỏ” là người mua chiếc xe trộm cắp hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ".
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2024.
Buộc bị cáo Phan Văn T nộp số tiền thu lợi bất chính 200.000đ để sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo Phan Văn T đã nộp số tiền 200.000đ theo biên lai thu số 0000402 ngày 12/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê.
2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Bảo Huyền Trân |
Bản án số 154/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG về hình sự
- Số bản án: 154/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 27/01/2024 tại phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Phan Văn T mặc dù không hứa hẹn trước và biết rõ chiếc xe máy Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát 76C1-716.88 của anh Ngô Trung H, có giá trị 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) do trộm cắp mà có nhưng bị cáo T vẫn có hành vi giúp các đối tượng trộm cắp liên hệ để bán chiếc xe và hưởng lợi từ việc bán xe với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
