Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 7 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng;

Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đồng Văn T, sinh năm 1985; nơi đăng ký HK và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn H, sinh năm 1958 và bà Tạ Thị T1, sinh năm 1963; vợ: Thân Thị H1, sinh năm 1985 (đã chết) ; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

1. Anh Thân Ngọc Q, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);

2. Anh Thân Văn V, sinh năm 1999 (đã chết).

Người đại diện của anh Thân Văn V:

2.1. Ông Thân Văn T2, sinh năm 1973;

2.2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1978;

2.3. Chị Hứa Thị H2, sinh năm 2001;

2.4. Cháu Thân Đức T3, sinh năm 2020;

2.5. Cháu Thân Đức A, sinh năm 2023;

Đều trú tại: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện cho cháu Thân Đức T3Thân Đức A là chị Hứa Thị H2.

Ông Thân Văn T2 và bà Nguyễn Thị Đ đều ủy quyền tham gia tố tụng cho chị Hứa Thị H2 (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Từ Thị L, sinh năm 1969; nơi cư trú: Xóm S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);

2. Bà Tạ Thị T1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đồng Văn T có Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] ngày 20/12/2022 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp. Ngày 16/12/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô Toyota Fotuner BKS 98A-253.47 đi trên đường C-Lào Cai do chạy quá tốc độ quy định, nên bị Phòng Hướng dẫn tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ thuộc Cục C Bộ C sử dụng thiết bị nghiệp vụ ghi lại thông tin vi phạm sau đó thông báo cho bị cáo biết. Do bị cáo không đến làm việc nên Cục C đã cập nhật thông tin vi phạm và thông báo cho cơ quan đăng kiểm và Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang biết để xử lý theo quy định.

Ngày 15/01/2024, bị cáo đi đăng kiểm xe ô tô nhưng không đăng kiểm được do chưa chấp hành xử phạt vi phạm hành chính nên bị cáo đã đến Công an huyện Y giải quyết. Công an huyện Y đã lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng và phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có thời hạn 02 tháng từ ngày 15/01/2024 đến hết ngày 15/3/2024.

Buổi tối ngày 20/01/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô Toyota Fotuner BKS 98A-253.47 chở chị Trần Bình T4, sinh năm 1986, trú tại tổ A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội và ba người con của bị cáo đến Siêu thị G, xã T, thành phố B để mua đồ dùng cá nhân.

Buổi chiều ngày 20/01/2024, anh Thân Văn V và anh Thân Ngọc Q mỗi người đi một xe máy đến dự đám cưới chị Đinh Thị H3thôn T, xã Đ, thành phố B và có uống rượu. Trong lúc ăn uống, anh Tăng Văn H4, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe mô tô BKS 98B3-545.57 của anh Q ra về trước. Sau khi ăn uống xong, anh V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe BKS 98B3-441.03 chở anh Q ngồi sau đi từ nhà chị H3 ra về.

Khoảng 21 giờ, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 98A-253.47 đi từ Siêu thị GO ra về, chị T4 ngồi bên ghế phụ và các con của bị cáo ngồi ở hàng ghế sau. Khi đi đến khu vực giao nhau giữa đường T với đường T thuộc thôn T, xã Đ thì xảy ra va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe BKS 98B3-441.03 do anh Thân Văn V điều khiển chở anh Thân Ngọc Q đi trên đường T đi về xã T, huyện Y (phía đường bên trái theo hướng xe ô tô do bị cáo điều khiển). Hậu quả làm anh V và anh Q bị ngã ra đường. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và chị T4 đã đưa anh Q và anh V đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu nhưng sau đó anh V bị chết.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại nút giao đường thôn T (hướng về xã T) với đường T (hướng về thôn P) thuộc thôn T, xã Đ, thành phố B. Đường Trần Thánh T5 được trải nhựa rộng 15 mét, là đường hai chiều, ở giữa là vạch kẻ đường nét đứt màu vàng. Đường thôn T được trải nhựa rộng 6,5 mét.

Chọn mép T đường T làm mép chuẩn. Chọn cột đèn đường chiếu sáng T1/L2/1 trên vỉa hè tương ứng mép chuẩn làm mốc cố định. Phương tiện, dấu vết tại hiện trường được đo so với mốc và mép chuẩn.

Vị trí số (1) là xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn biển số 98B3-441.03 đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng T. T6 trục bánh sau xe cách mép chuẩn và mốc lần lượt là 7,1 mét và 8,3 mét; tâm trục bánh trước xe cách mép chuẩn 8,1 mét.

Vị trí số (2) là xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, màu sơn trắng biển số 98A-253.47 dừng đỗ trên đường, đầu xe quay hướng Đông Nam, đuôi xe quay hướng T. T6 trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn lần lượt là 1,4 mét và 1,95 mét; tâm trục bánh sau bên trái cách tâm trục bánh trước xe mô tô là 11,1 mét.

Vị trí số (3) là vết cày xước mặt đường không liên tục chiều hướng T – Đông Nam trên diện (1,2x4,5) mét. Điểm đầu cách mép chuẩn 6,05 mét, cách mép T đường T là 2,7 mét, điểm cuối kết thúc tại để chân trước bên trái xe mô tô.

Vị trí số (4) là vết chất màu nâu đỏ dạng vũng trên mặt đường, vị trí cách mép chuẩn 6,65 mét, cách tâm trục bánh trước xe mô tô là 5,8 mét. Vết kích thước (0,3x0,4) mét.

Vị trí số (5) là diện các mảnh vỡ nhựa rải rác trên mặt đường kích thước (12,5x4,8) mét, tâm diện cách mép chuẩn 7,5 mét và cách tâm trục bánh trước xe mô tô là 2,5 mét. Trên diện thấy 01 đôi giầy vải, áo khoác màu xanh.

Vị trí số (6) là một mũ bảo hiểm kích thước (20x30)cm trên mặt đường vị trí cách mép chuẩn 6,1 mét, cách tâm trục bánh trước xe mô tô là 4,1 mét. Mũ đã vỡ một phần vỏ nhựa.

Vị trí số (7) là mảnh vỡ nhựa trong suốt kích thước (0,25x0,35) mét trên mặt đường tại vị trí cách mép chuẩn 3,5 mét, cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô là 3,1 mét. (bút lục 107-147)

Kết quả khám nghiệm tử thi Thân Văn V:

Khám ngoài: Vùng trán trái có diện xây xát da kích thước (4x2)cm. Vùng trán phải và gò má phải có diện xây xát da kích thước (16x5,5)cm. Vùng cằm có vết rách da kích thước (2x0,6)cm.

Vùng ngực hai bên có diện xây xát da bầm tím kích thước (20x25)cm. Vùng bụng có diện xây xát da bầm tím kích thước (17x6)cm.

Mặt sau khuỷu tay phải có diện xây xát da kích thước (4,5x2.3)cm. Mặt trước 1/3 giữa cẳng tay trái có diện xây xát da kích thước (3x2)cm.

Sưng nề, biến dạng đùi hai bên. Mặt ngoài đùi phải có diện xây xát rách da kích thước (2,5x1)cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có vết rách da kích thước (3x2)cm. Đùi, gối, cẳng chân trái có nhiều vết xây xát, rách da, bầm tím trên diện (54x16)cm. Mu bàn ngón chân phải có diện xây xát da bầm tím kích thước (15x7)cm.

Hai lỗ tai có máu không đông chảy từ trong ra. Sờ nắn thêm gãy phức tạp 1/3 giữa xương cánh tay phải, 1/3 giữa xương đùi hai bên. Hai lỗ mũi có máu không đông chảy từ trong ra khi thay đổi tư thế.

Kiểm tra các cơ quan khác bên ngoài không phát hiện dấu vết tổn thương.

Mổ tử thi: Kiểm tra vết rách da 1/3 trên cẳng chân phải thấy bầm dập tổ chức dưới da, cơ. Tổn thương mạch máu ở nhiều vị trí. Qua vị trí tổn thương máu đỏ vẫn chảy ra ngoài.

Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 98A-253.47

Góc trái kính chắn gió phía trước dập vỡ kích thước (100x73)cm.

Góc trái nắp capo có vết mài sát sơn kim loại sạch bụi dạng đường vân vải kích thước (31x6)cm.

Tai xe bên trái cong vênh bẹp móp mài sát mất sơn kim loại tổng trên diện (100x60)cm. Tại vị trí thấp nhất cách đất 80cm có vết mài sát bám dính chất màu đen dạng đường vân vải kích thước (13,5x5)cm.

Góc trái ba đờ sốc trước tại vị trí thấp nhất cách đất 51,5cm có nhiều vết mài sát mất sơn nhựa kích thước (45x33,5)cm. Tại vị trí thấp nhất cách đất 38cm có vết mài sát sơn nhựa bám dính chất màu đen dạng đường vân lốp kích thước (20x16)cm.

Vỡ khuyết đèn gầm phía trước bên trái. Vỡ khuyết ốp nhựa bảo vệ đèn gầm bên trái. Vỡ khuyết biển số phía trước đầu xe. Mặt ngoài la zăng bánh trước bên trái có nhiều vết mài sát kim loại tổng trên diện (22x17,5)cm, điểm gần nhất cách chân van 3cm. Vỡ khuyết ốp gương chiếu hậu bên trái.

Đầu cánh cửa trước bên trái cong vênh kim loại hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải. Bề mặt có vết mài sát mất sơn kim loại tổng kích thước (37x9)cm. Điểm thấp nhất cách đất 68cm.

Cạnh ngoài bậc lên xuống cánh cửa trước bên trái có vết mài sát nhựa, bẹp móp nhựa kích thước (33,5x3)cm.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98B3-441.03

Vỡ khuyết toàn bộ cụm đèn pha trước, đèn xi nhan trước hai bên trái, phải. Vỡ khuyết ốp nhựa đầu xe. Vỡ khuyết toàn bộ cánh yếm phải.

Gãy khuyết đầu tay phanh phải, cạnh trước tay phanh có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng nghi sơn.

Khung kim loại phía trước đầu xe bị cong chùn hướng từ trước về sau bề mặt mài sát sơn kim loại bám dính chất màu trắng dạng sơn kích thước (6x3,5)cm.

Chắn bùn trước bánh trước tại vị trí mặt phải có nhiều vết mài sát sơn nhựa, dập vỡ nhựa bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su tổng kích thước (40x16)cm. Chắn bùn sau bánh trước bị rách mài sát nhựa kích thước (22x15)cm.

Mặt lăn lốp bánh trước bên phải có nhiều vết mài sát cao su sạch bụi kích thước (32x3)cm, điểm gần nhất cách chân van 44cm theo chiều tiến bánh xe.

Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải tại vị trí gần nhất cách chân van 41,5cm có vết mài sát cao su sạch bụi kích thước (5,5x1,3)cm.

Mặt ngoài càng giảm sóc bánh trước bên phải có nhiều vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su tổng kích thước (22.8x4)cm. Càng bánh trước cong vặn hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau.

Góc phải bầu lọc gió có nhiều vết mài sát sạch bụi, dập vỡ nhựa tổng kích thước (24x13,5)cm. Bộ C1 đứt gãy khỏi vị trí cố định.

Gãy khuyết cánh tản nhiệt bên phải động cơ kích thước (3x1,5)cm. Gãy khuyết đầu bu ri bên phải động cơ.

Đầu ngoài tay nắm trái có vết mài sát sơn kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông kích thước (2x1)cm.

Vỡ khuyết toàn bộ cánh yếm ngoài bên trái, cánh yếm trong có nhiều vết mài sát, dập vỡ nhựa tổng kích thước (33x10,5)cm.

Để chân trước bên trái cong chùn hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, đầu ngoài có vết mài sát cao su, mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa, bê tông kích thước (3x2)cm.

Cạnh dưới để chân sau bên trái có vết mài sát cao su sạch bụi kích thước (6x1)cm. Cạnh ngoài tay nâng xe bên trái có vết mài sát cao su bám dính bụi đất kích thước (10,1x1,5)cm.Vành bánh trước bị cong vênh (bút lục 163-180)

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Thân Văn V và cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn giao thông.

Kết luận giám định số 387/KLGĐTT-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Nguyên nhân chết của Thân Văn V do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, gãy xương cánh tay phải và xương đùi hai bên.

Kết luận giám định số 527/KL-KTHS ngày 10/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

1. Dấu vết vỡ, trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu đen và màu trắng tại bên trái ba đờ sốc trước, cụm đèn gầm bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98A-253.47, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 16 đến 20 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen tại cánh yếm bên phải, chắn bùn bánh trước, giảm sóc trước bên phải và dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất tại bên phải má lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 441.03, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 6, 13, 17, 23 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết chùn cong, bẹp méo, mài sát sơn, kim loại ở tai xe bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98A-253.47, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 11, 17 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng tại tay nắm và tay phanh bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 441.03, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 7, 8, 9 bản ảnh khám phương tiện).

2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98A-253.47 với xe mô tô biển kiểm soát 98B3-441.03 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3, không xác định được có thuộc khu vực giao nhau giữa đường T - T với đường T - P hay không.

3. Không xác định được chiều hướng chuyển động và tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Ngày 12/3/2024, Cơ quan điều tra thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả thực nghiệm xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS 98A-253.47 với xe mô tô BKS 98B3-441.03 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số (3) nằm trong khu vực giới hạn giao nhau. Tại vị trí va chạm giữa xe ô tô và xe mô tô thì trục bánh trước xe ô tô bên phải cách mép phải đường T hướng về xã T là 2,95m, cách mép chuẩn là 3,65m. Trục bánh xe ô tô bên phải phía sau trùng với mép phải. Tại vị trí này phần đầu xe ô tô BKS 98A-253.47 và đầu xe mô tô BKS 98B3-441.03 nằm trong khu vực giới hạn khu vực ngã tư.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất ma tuý, nồng độ cồn trong máu của tử thi Thân Văn V.

Kết luận giám định số 656/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của V1 Bộ C kết luận:

Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của tử thi Thân Văn V.

Kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của V1 Bộ C kết luận:

Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Thân Văn V gửi giám định có tìm thấy E (cồn), nồng độ Ethanol: 290 mg/100 ml máu.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video trích xuất tại camera trên xe ô tô BKS 98A-253.47. Kết luận giám định số 528/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 (năm) file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.

03 file video có tên "20240120_20h52m52s.mp4"; "20240120_21h00 m49s.mp4"; "20240120_21h01m49s.mp4" trên có hình ảnh video tổng thể được thiết bị lưu trữ tự động liên kết các khung hình với nhau từ 04 camera được lắp đặt tại các vị trí góc quay khác nhau bố trí trên phương tiện giao thông (hình ảnh camera tại vị trí: Trước, sau và 02 bên của phương tiện giao thông), không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

2. Trích xuất được 36 hình ảnh liên quan đên vụ việc có trong các file video gửi giám định.

Đối với anh Thân Ngọc Q bị thương vùng xương hàm, gãy 1/3 xương đùi pahir, trật khớp vai phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B sau đó chuyển đến bệnh viện R. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích nhưng anh Q từ chối giám định và không có đề nghị gì.

Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá tài sản. Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐ ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Tổng trị giá thay thế, sửa chữa đối với chiếc xe mô tô BKS 98B3-441.03 là 8.690.000 đồng. Tổng trị giá thay thế, sửa chữa đối với chiếc xe ô tô BKS 98A-253.47 là 20.300.000 đồng.

Cáo trạng số: 143/CT-VKS ngày 05/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố: Bị cáo Đồng Văn T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo có Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] ngày 20/12/2022 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp. Ngày 15/01/2024, bị cáo đi đăng kiểm xe ô tô BKS 98A-253.47 nhưng không đăng kiểm được do chưa chấp hành xử phạt vi phạm hành chính nên bị cáo đã đến Công an huyện Y giải quyết và bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng và phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có thời hạn 02 tháng từ ngày 15/01/2024 đến hết ngày 15/3/2024.

Buổi tối ngày 20/01/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô Toyota Fotuner BKS 98A-253.47 chở chị Trần Bình T4 và ba người con của bị cáo đến Siêu thị G, xã T, thành phố B để mua đồ dùng cá nhân. Khoảng 21 giờ, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 98A-253.47 đi từ Siêu thị G ra về. Khi bị cáo điều khiển xe ô tô đi đến khu vực giao nhau giữa đường T với đường T thuộc thôn T, xã Đ, thành phố B thì xảy ra va chạm với xe mô tô do anh Thân Văn V điều khiển chở anh Thân Ngọc Q, làm anh V và anh Q bị ngã ra đường. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và chị T4 đã đưa anh Q và anh V đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu nhưng sau đó anh V bị chết. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo thỏa thuận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị hại là anh Thân Ngọc Q có lời khai xác định: Buổi chiều ngày 20/01/2024, anh và anh Thân Văn V đến dự đám cưới chị Đinh Thị H3, sinh năm 1999 ở thôn T, xã Đ, thành phố B và có uống rượu. Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh và anh V đi đến khu vực giao nhau giữa đường T với đường T thuộc thôn T, xã Đ, thành phố B thì xảy ra va chạm với xe ô tô do bị cáo Đồng Văn T điều khiển, anh và anh V bị ngã ra đường. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và chị T4 đã đưa anh Q và anh V đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu. Bị cáo đã bồi thường cho anh theo thỏa thuận, anh không có yêu cầu gì. Đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện cho anh Thân Văn V là ông Thân Văn T2, bà Nguyễn Thị Đ, chị Hứa Thị H2 do chị Hứa Thị H2 có lời khai xác định: Tai nạn giao thông làm anh Thân Văn V chết là điều không mong muốn. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã đến gia đình thăm hỏi và bồi thường thiệt hại số tiền là 300.000.000 đồng. Đại diện cho gia đình, chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Tạ Thị T1 có lời khai xác định: Bà là mẹ đẻ của bị cáo Đồng Văn T. Sau khi tai nạn xảy ra, bà cùng bị cáo gặp gỡ gia đình các bị hại và bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận. Nay bà không có yêu cầu gì. Bà đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Từ Thị L có lời khai xác định: Bà là mẹ đẻ của anh Thân Ngọc Q. Tai nạn giao thông làm anh V chết và anh Q bị thương tích là điều không mong muốn. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã đến gia đình thăm hỏi và bồi thường thiệt hại số tiền là 30.000.000 đồng. Đại diện cho gia đình, bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đồng Văn T 03 năm tù, về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Y giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/12/2022.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt bị hại, đại diện của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng đã có lời khai, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện cho bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử thấy:

Ngày 15/01/2024, Đồng Văn T bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì điều khiển xe ô tô vượt quá tốc độ quy định, T bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe ô tô có thời hạn 02 tháng từ ngày 15/01/2024 đến hết ngày 15/3/2024.

Khoảng 21 giờ ngày 20/01/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 98A-253.47 đi đến khu vực giao nhau giữa đường T với đường T, xã Đ, thành phố B đã va chạm với xe mô tô BKS 98B3-441.03 do anh Thân Văn V điều khiển chở anh Thân Ngọc Q đi theo hướng từ đường thôn T đi về xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Hậu quả làm anh V bị chết còn anh Q bị thương.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi hỗn hợp. T điều khiển ô tô đi vào khu vực ngã tư nhưng không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn vi phạm khoản 3, Điều 5, Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G1. Anh Thân Văn V điều khiển xe mô tô đến ngã tư nhưng không nhường đường cho xe đến từ bên phải đã vi phạm Điều 24 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G1.

Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đồng Văn T phạm tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:”

Tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm an toàn công công, trật tự công cộng, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần xử lý các bị cáo theo quy định của bộ luật hình sự để giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm.

[4]. Xét lỗi trong vụ án thì thấy: Tai nạn xảy ra là do lỗi hỗn hợp của bị cáo và anh Thân Văn V trong quá trình điều khiển phương tiện đi vào khu vực ngã tư nhưng không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi tai nạn xảy ra thân nhân của bị cáo và bản thân bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo là lao động duy nhất đang nuôi ba con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không cần bắt bị cáo cách ly xã hội mà xử phạt tù, cho hưởng án treo. Giao bị cáo cho UBND cấp xã, nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách theo Điều 65 của Bộ luật hình sự.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không hành nghề lái xe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình bị hại, đại diện bị hại. Bị hại, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng:

9.1. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/12/2022.

9.2. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô BKS 98B3-441.03 cho chị Hứa Thị H2 và trả lại xe ô tô BKS 98A-253.47 cho Đồng Văn T, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[10]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đồng Văn T 03 (ba) năm tù, về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đồng Văn T cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp ngày 20/12/2022.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đồng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự .

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều; 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT-CA tp Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS tp Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Liễu, huyện Yên Dũng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đồng Văn Trường VP giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger