Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 154/2023/HS-ST.

Ngày 28-8-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Diệu Tuyết Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bính

Ông Lê Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa T – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1995, tại Bình Thuận.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1969; Vợ: Trương Thị P, sinh năm 1994; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 04/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 24 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 127/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2017, đã được xóa án tích.

Ngày 17/7/2023, Nguyễn Văn T1 bị bắt truy nã theo Quyết định truy nã, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn Sĩ T3, sinh năm 1990 – Cảnh sát khu vực phường M Công tác tại Công an phường M (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn S, sinh năm 1992. Trú tại: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
  2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1994. Trú tại: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
  3. Lê Sĩ H1, sinh năm 1989 – Cảnh sát khu vực phường M Công tác tại Công an phường M (vắng mặt).
  4. Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1995 – Cảnh sát khu vực phường M Công tác tại Công an phường M (vắng mặt).
  5. Lê Hoàng H2, sinh năm 1968 – Dân quân tự vệ phường M (vắng mặt).
  6. Phan Bá T5, sinh năm 1996 – Dân quân tự vệ phường M (vắng mặt).
  7. Trần Ngọc H3, sinh năm 1980 – Dân quân tự vệ phường M (vắng mặt).
  8. Nguyễn Văn N, sinh năm 1975 – Dân quân tự vệ phường M (vắng mặt).
  9. Nguyễn Vĩnh T6, sinh năm 1971 – Dân quân tự vệ phường M (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 17/9/2021, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn B (tên thường gọi là N1, sinh năm 1997) cùng trú tại khu phố A, phường M, thành phố P và một đối tên K (không rõ nhân thân) tổ chức nhậu tại gần nhà của T1. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày thì T1, B và K chuyển xuống khu vực vỉa hè gần số nhà D đường H (thuộc khu phố A, phường M) để nhậu tiếp. Lúc này, B và K xuống trước còn T1 đi về nhà Nguyễn Văn H (sinh năm 1994, là anh trai của T1) ở gần đó để lấy cây đàn ghi ta.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ tuần tra đảm bảo việc thực hiện việc giãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid-19 theo quy định tại Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ của Công an phường M gồm các ông: Lê Sĩ H1 (sinh năm 1989), Nguyễn Hữu T4 (sinh năm 1995) là cảnh sát khu vực; Lê Hoàng H2 (sinh năm 1968), Phan Bá T5 (sinh năm 1996), Trần Ngọc H3 (sinh năm 1980), Nguyễn Văn N (sinh năm 1975), Nguyễn Vĩnh T6 (sinh năm 1971) là dân quân tự vệ tiến hành tuần tra trên các tuyến đường thuộc địa bàn phường M theo lịch được phân công. Khi đi tuần tra, những người trong tổ công tác đều mặc trang phục theo đúng quy định. Khi Tổ công tác đi đến khu vực trước số nhà D đường H thì phát hiện Nguyễn Văn B, K đang ngồi nhậu nên ông Lê Sĩ H1 đã đi đến nhắc nhở, yêu cầu B và K đi về nhằm đảm bảo việc giãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid-19 thì B và K đứng dậy nên Tổ công tác tiếp tục đi tuần tra. Khoảng 15 phút sau, Tổ công tác quay lại thì phát hiện B, K và Nguyễn S (tên thường gọi Sáu Đầu B1, sinh năm 1992, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P) vẫn còn ngồi nhậu nên ông Lê Sĩ H1 tiếp tục nhắc nhở, yêu cầu giải tán thì Nguyễn Văn B đứng dậy chửi bới Tổ công tác. Lúc này, Nguyễn Văn T1 cầm cây đàn ghi ta từ nhà của H đi ra thì thấy B đang đứng áp sát vào người ông H1 chửi và thách thức. T1 cầm theo cây đàn đi tới chỗ B đang đứng thì B giật cây đàn từ tay của T1 rồi đánh vào người ông H1 theo hướng từ trên xuống dưới, ông H1 đưa tay phải lên đỡ làm cho cây đàn rơi xuống đường và bị vỡ. B nhặt cây đàn lên, sau đó B và T1 tiếp tục chửi bới tổ công tác. Nguyễn Văn H lúc này đang ở trong nhà của mình nghe ồn ào nên chạy ra xem. Khi H đang đứng gần chỗ T1 thì bị các thành viên trong tổ công tác đi lại kẹp tay khống chế, H bị đau nên bung ra và bỏ chạy, H vừa chạy vừa quay lại nói “Đánh chết mẹ nó đi”. Thấy tình hình phức tạp nên ông H1 đã điện thoại về Công an phường yêu cầu tăng cường thêm lực lượng để hỗ trợ. Khoảng 05 phút sau, ông Văn Sĩ T3 (sinh năm 1990, là Cảnh sát khu vực phường M) được tăng cường đến hiện trường. Thấy ông T3 mặc trang phục Cảnh sát nhân dân đi đến, mặc dù biết rõ ông T3 đang thi hành công vụ nhưng khi ông T3 vừa bước xuống xe đi đến, Nguyễn Văn T1 giật cây đàn từ tay của B rồi cầm cây đàn trên tay phải đánh vào người ông T3 theo hướng từ trên xuống. Ông T3 đưa tay trái lên đỡ thì bị T1 đánh trúng và bị thương tích ở lòng bàn tay, cẳng tay và cánh tay trái. Sau khi đánh ông T3, T1 cầm cây đàn bỏ chạy, sau đó vứt cây đàn, các đối tượng khác cũng bỏ chạy, ông T3 được đưa đến Phòng khám Đ1 để khám và điều trị thương tích.

Tại Bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số 163/2022/TgT

ngày 09/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của ông

Văn Sĩ T3 như sau:

  • + Trầy xước da 1/3 mặt ngoài cánh tay trái đã điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước: 2,3x0,5 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
  • + Trầy xước da 1/3 giữa mặt trước cẳng tay trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo mờ, kích thước: 8x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
  • + Trầy xước da lòng bàn tay trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo mờ kích thước: 0,7x0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
  • + Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Văn Sĩ T3 là 3%.
  • + Các vết trầy xước do vật tày gây ra.
  • + Các vết trầy xước có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
  • + Hiện không xác định cố tật.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 tấm gỗ bên hông mặt sau đàn ghi ta, chiều rộng lớn nhất 37 cm, chiều rộng nhỏ nhất 24 cm, chiều dài 48 cm, mặt sau thùng đàn có hình bầu dục do ông Nguyễn Đ (sinh năm 1963, HKTT: khu phố A, phường M, TP.) giao nộp.
  • - 01 USB màu trắng, có in chữ Kingston bên trong có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh các đối tượng gây mất trật tự tại hiện trường do Công an phường M giao nộp.

Đối với cây đàn T1 dùng để đánh gây thương tích cho ông T3 nhằm cản trở ông T3 thi hành công vụ, T1 đã vứt mất, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Xử lý vật chứng:

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đối với: 01 tấm gỗ bên hông mặt sau đàn ghi ta, chiều rộng lớn nhất 37 cm, chiều rộng nhỏ nhất 24 cm, chiều dài 48 cm, mặt sau thùng đàn có hình bầu dục đã thu giữ đến kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để chờ xử lý.

Đối với 01 USB 02 đoạn video ghi lại hình ảnh các đối tượng gây mất trật tự tại hiện trường, được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án để phục vụ xét xử.

Về dân sự:

Ông Văn Sĩ T3 bị Nguyễn Văn T1 đánh gây thương tích nhưng không yêu cầu Nguyễn Văn T1 bồi thường về dân sự.

Trong giai đoạn truy tố, sau khi Viện kiểm sát nhân dân TP Phan Thiết ban hành Cáo trạng số 150/CT-VKSPT-HS ngày 30/9/2022 truy tố đối với Nguyễn Văn T1 thì T1 bỏ trốn, Viện kiểm sát nhân dân TP Phan Thiết đã yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T truy nã bị can đối với T1. Ngày 17/7/2023, Nguyễn Văn T1 bị bắt truy nã theo Quyết định truy nã số 15 ngày 06/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn T1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 330; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án: 01 tấm gỗ bên hông mặt sau đàn ghi ta, chiều rộng lớn nhất 37 cm, chiều rộng nhỏ nhất 24 cm, chiều dài 48 cm, mặt sau thùng đàn có hình bầu dục.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn Sĩ T3 có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tại bản cáo trạng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ để kết luận vào khoảng 23 giờ ngày 17/9/2021, tại khu vực vỉa hè gần nhà số D đường H thuộc khu phố A, phường M, thành phố P, Nguyễn Văn T1 biết rõ Tổ công tác do Công an phường M thành lập đang tuần tra làm nhiệm vụ đảm bảo thực hiện nghiêm việc giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về phòng chống dịch Covid – 19. Tuy nhiên khi được Tổ công tác nhắc nhở, yêu cầu giải tán, không được tụ tập nhậu thì T1 đã có hành vi chửi bới, chống đối, ngăn cản Tổ công tác. Quá trình chống đối, Nguyễn Văn T1 đã có hành vi dùng cây đàn ghi ta đánh vào người ông Văn Sĩ T3 là Cảnh sát khu vực được Công an phường M tăng cường đến hiện trường giải quyết vụ việc, làm ông T3 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T1 là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, đã làm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của Tổ tuần tra đảm bảo an ninh, trật tự và kiểm soát phòng, chống dịch Covid - 19 của Công an phường M, thành phố P; xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự xã hội và phòng chống dịch Covid - 19. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn T1 là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Khi cả nước và toàn dân đang phải thực hiện phòng chống dịch bệnh, thực hiện việc giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng chính phủ về việc cách ly xã hội để phòng chống dịch bệnh. Nhưng bị cáo đã không chấp hành khi được Tổ công tác nhắc nhở, yêu cầu giải tán, không được tụ tập nhậu mà còn có hành vi chửi bới, chống đối, ngăn cản Tổ công tác. Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu, do đó cần phải xử phạt nghiêm bị cáo theo pháp luật hình sự và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[6] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và dân sự:

  • - 01 tấm gỗ bên hông mặt sau đàn ghi ta, chiều rộng lớn nhất 37 cm, chiều rộng nhỏ nhất 24 cm, chiều dài 48 cm, mặt sau thùng đàn có hình bầu dục do ông Nguyễn Đ (sinh năm 1963, HKTT: khu phố A, phường M, TP.) giao nộp. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 USB màu trắng, có in chữ Kingston bên trong có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh các đối tượng gây mất trật tự tại hiện trường do Công an phường M giao nộp. Xét thấy đây là chứng cứ đi kèm với hồ sơ vụ án nên cần lưu hồ sơ vụ án.

Đối với cây đàn T1 dùng để đánh gây thương tích cho ông T3 nhằm cản trở ông T3 thi hành công vụ, T1 đã vứt mất, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không đặt ra để xem xét xử lý.

[8] Nguyễn Văn B có hành vi chửi bới, chống đối Tổ công tác của Công an phường M, dùng cây đàn ghi ta đánh vào người ông Lê Sĩ H1 nhưng sau khi sự việc xảy ra, B đã đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với B nên đã ra Quyết định tách hành vi của B để làm rõ, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn H khi nghe ồn ào thì đến hiện trường xem và bị các đồng chí trong tổ công tác kẹp tay, H bị đau nên vùng ra và nói “Đánh chết mẹ nó đi” rồi bỏ chạy. H khai nói câu nói trên do bị đau, không nhằm kích động người khác chống người thi hành công vụ. Quá trình điều tra, T1 khai không nghe H nói câu nói trên, cũng không tiếp nhận ý chí từ H về việc chống người thi hành công vụ nên Cơ quan điều tra không xử lý H về tội “Chống người thi hành công vụ” với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

Nguyễn S không có hành vi cản trở lực lượng thi hành công vụ nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Đối tượng tên K chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 330; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt là ngày 17/7/2023.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án: 01 tấm gỗ bên hông mặt sau đàn ghi ta, chiều rộng lớn nhất 37 cm, chiều rộng nhỏ nhất 24 cm, chiều dài 48 cm, mặt sau thùng đàn có hình bầu dục.

Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 04 ngày 07/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/8/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an Tp Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP Phan Thiết;
  • - UBND phường Mũi Né (thay thông báo);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Diệu Tuyết Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 154/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị xử 01 năm tù về tội chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger