|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2023/DS-PT
Ngày: 25/8/2023
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Toàn
Ông Nguyễn Hoàng Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 126/2023/TLPT-DS, ngày 17 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 161/2023/QĐ-PT ngày 26/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976. (có mặt)
- Ông Lâm Văn H, sinh năm 1967. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lâm Văn H: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà B, ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng - Theo Giấy ủy quyền ngày 22/11/2022. (có mặt)
Bị đơn:
- Bà Trịnh Phúc Đ, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Trịnh Vũ M, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trịnh Vũ M và bà Trịnh Phúc Đ là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2022 và đơn thay đổi đơn khởi kiện ngày 06/01/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H trình bày: Nguyên bà Trịnh Phúc Đ cùng chồng là ông Trịnh Vũ M có thiếu vợ chồng ông, bà 370.000.000 đồng, gồm các khoản như sau:
Tiền mượn:
- Lần thứ 1: Ngày 02/11/2021 âl bà Đ, ông M mượn 165.000.000 đồng.
- Lần thứ 2: Ngày 25/4/2022 âl bà Đ, ông M mượn 60.000.000 đồng.
- Lần thứ 3: Ngày 02/6/2022 âl bà Đ, ông M mượn 16.000.000 đồng.
- Lần thứ 4: Ngày 02/9/2022 âl bà Đ, ông M mượn 24.000.000 đồng.
- Tổng cộng là 265.000.000 đồng; việc mượn tiền có làm giấy tay.
Tiền hụi:
Dây 1: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở lần đầu ngày 05/07/2020 âl, do bà Đ, ông M làm chủ hụi, hụi có 21 chân, ông bà tham gia 01 chân, trong danh sách hụi ghi Nhanh + Hồng, ông, bà đóng được 19 lần, lần khui thứ 20 thì hốt, trừ đầu thảo, trừ lại 01 lần hụi chết, còn lại số tiền là 34.700.000 đồng, bà Đ, ông M không giao tiền hụi cho ông, bà.
Dây 2: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở lần đầu ngày 05/07/2020 âl, có 22 chân. Ông, bà tham gia 02 chân:
- + Chân 1: Ông, bà đóng được 18 lần, lần khui thứ 19 thì hốt, trừ đầu thảo, trừ lại 03 lần hại chết, còn lại số tiền là 33.800.000 đồng, bà Đ, ông M không giao tiền hụi cho ông, bà.
- + Chân 2: Ông, bà đóng được 21 lần, thì hốt chót, trừ đầu thảo, trừ lại 03 lần hụi sống, còn lại số tiền là 36.500.000 đồng, bà Đ, ông M không giao tiền hụi cho ông, bà.
Tổng số tiền bà Đ, ông M thiếu ông, bà 03 chân hụi là 105.000.000 đồng.
Sự việc trên, ông, bà có yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải, Tổ hòa giải có mời hai bên đến hòa giải, tại phiên hòa giải, bà Trịnh Phúc Đ phủ nhận số tiền vay 24.000.000 đồng, chỉ thừa nhận thiếu ông, bà tổng số tiền là 346.000.000 đồng (tiền hụi 105.000.000 đồng, tiền vay 241.000.000 đồng) nhưng không hứa thời gian trả.
Nay bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết buộc bà Trịnh Phúc Đ, ông Trịnh Vũ M có trách nhiệm trả lại ông, bà tổng số tiền còn thiếu là 346.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
- Tại Biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 17 tháng 3 năm 2023, bị đơn bà Trịnh Phúc Đ trình bày: Bà thừa nhận có thiếu vợ chồng bà N tiền vay:
- Lần thứ 1: Vào ngày 02/11/2021 âl bà có mượn của bà N 165.000.000 đồng, có làm biên nhận (số tiền này là tiền hụi không có tiền để nạp nên tính qua tiền vay tháng),
- Lần thứ 2: Vào ngày 25/04/2022 âl bà có mượn của bà N 60.000.000 đồng, có làm biên nhận (số tiền này là số tiền lãi của biên nhận vay 156.000.000 đồng)
- Lần thứ 3: Vào ngày 02/06/2022 âl bà có mượn của bà N 16.000.000 đồng, có làm biên nhận (số tiền này là tiền lãi của biên nhận vay 165.000.000 đồng).
Vì vậy, bà N, ông H yêu cầu bà trả tổng số tiền vay 241.000.000 đồng thì bà đồng ý. Đối với số tiền vay là 24.000.000 đồng thì bà không thống nhất do bà N làm khống giấy và hai bên không làm biên nhận. Ngoài ra, trước đây bà làm chủ hụi, bà N, ông H là hụi viên, bà N tham gia hai dây hụi, cụ thể như sau:
Dây 1: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở lần đầu ngày 05/07/2020 âl, hụi có 21 chân, bà N tham gia 01 chân, đóng được 19 lần, lần khui thứ 20 thì hốt, trừ đầu thảo, trừ lại 01 lần hụi chết, còn lại số tiền là 34.700.000 đồng,
Dây 2: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở lần đầu ngày 05/07/2020 âl, có 22 chân. Bà N tham gia 02 chân, chân 1: Bà N đóng được 18 lần, lần khui thứ 19 thì hốt, trừ đầu thảo 03 lần hụi chết, còn lại số tiền là 33.800.000 đồng, chân 2: Bà N đóng được 21 lần thì hốt chót, trừ đầu thảo, trừ lại 03 lần hụi sống, còn lại số tiền là 36.500.000 đồng. Tổng cộng số tiền hai dây hụi mà bà N được hốt hụi chót và trừ tiền đầu thảo và trừ luôn tiền hụi chết thì bà N được hốt tổng cộng cho hai dây hụi này là 105.000.000 đồng. Đúng ra sau khi mãn thì bà phải giao tiền hụi này cho bà N nhưng do gia đình bà lúc này đó gặp khó khăn nên chưa giao tiền hụi cho bà N nên bà N có gửi đơn nhờ chính quyền địa phương giải quyết vào ngày 15/10/2022, tại buổi hòa giải ấp A, xã T thì Tổ hòa giải yêu cầu bà trong vòng một tuần phải hứa là bao lâu trả được số tiền cho bà N, lúc đó bà không dám hứa, đến khoảng 10 ngày sau thì bà đã trả dần cho bà Nguyễn Thị N hết tổng số tiền của 02 dây hụi là 105.000.000 đồng.
Bà xác nhận hiện nay bà chỉ thiếu bà N 241.000.000 đồng tiền vay và lãi suất, còn số tiền hụi 105.000.000 đồng thì bà đã trả cho bà N xong, việc bà trả tiền hụi cho bà N không làm biên nhận và cũng không có ai chứng kiến, vì từ trước đến nay khi giao tiền hụi thì một bên giao tiền, một bên thu tiền, làm bằng uy tín.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Điều 18, Điều 23, Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, về hụi, họ, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận việc rút một phần đơn khởi kiện và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M trả số tiền mượn 24.000.000 đồng.
- Buộc bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H số tiền vốn vay 241.000.000 đồng và tiền hụi 105.000.000 đồng. Tổng cộng là 346.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
* Ngày 30/5/2023, bị đơn bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M nộp đơn kháng cáo quá hạn trực tiếp đến Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, bà Đ yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại giải quyết theo hướng xác định bà Đ còn nợ nguyên đơn tiền 241.000.000 đồng, còn số tiền hụi 105.000.000 đồng thì bà không còn thiếu vì đã trả đủ; Đối với ông M kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì ông không biết gì về các dây hụi do bà Trịnh Phúc Đ làm đầu thảo nên không liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn bà Đ thừa nhận bà còn nợ nguyên đơn tiền 241.000.000 đồng, còn số tiền hụi 105.000.000 đồng thì bà đã trả cho nguyên đơn nên không còn nợ, nhưng không có giấy tờ hay người chứng kiến. Tiền vay mượn và làm chủ hụi thì tiền có được sử dụng vào sinh hoạt hàng ngày của gia đình.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Trịnh Vũ M không thừa nhận nợ vì không biết việc làm đầu thảo hụi của bà Đ, nên ông đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn bà N không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông M và bà Đ.
Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo quá hạn đề ngày 30/5/2023 do các bị đơn ông Trịnh Vũ M và bà Trịnh Phúc Đ gửi đến Tòa án nhân dân huyện Kế Sách ngày 30/5/2023, tại quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 09/2023/QĐ-PT ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Do đó đơn kháng cáo của các bị đơn là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định các Điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Lâm Văn H vắng mặt, nhưng có người đại diện là bà Nguyễn Thị N tham gia phiên toà. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
[3] Về nội dung: Vào năm 2021 và 2022 vợ chồng bà Trịnh Phúc Đ, ông Trịnh Vũ M có vay tiền của vợ chồng bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H với số tiền 241.000.000 đồng, việc vay nợ có làm biên nhận, bà Đ thừa nhận còn thiếu tiền vốn vay của bà N 241.000.000 đồng và lãi. Các bên còn thừa nhận bà N có tham gia 03 phần hụi của 02 dây hụi do bà Đ làm chủ hụi, trong quá trình chơi hụi bà N hốt hụi nhưng bà Đ không giao đủ tiền hụi cho bà N và còn thiếu lại số tiền hụi là 105.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi, tự nguyện giao kết, thỏa thuận với nhau, giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quá trình vay nợ, chơi hụi, bà Đ là người có lỗi, vì không thực hiện đúng nghĩa vụ của người vay, của hụi viên, đã nhận tiền nhưng không trả vốn, lãi. Vì vậy, bà Đ phải có trách nhiệm trả cho bà N tiền vốn theo quy định Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 463, khoản 1, Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 18, Điều 23, Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, về hụi, họ, biêu, phường. Do đó, Hội đồng xét xử xét sơ thẩm xác định và buộc ông M, bà Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H số tiền vốn vay 241.000.000 đồng và tiền hụi 105.000.000 đồng. Tổng cộng là 346.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Phúc Đ về việc số tiền hụi 105.000.000 đồng bà đã giao đầy đủ nên không còn nợ nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy: Đối với số tiền hốt hụi 105.000.000 đồng, thì tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/3/2023 và tại Tờ tường trình đề ngày 30/5/2023 của bà Trịnh Phúc Đ thì bà cũng thừa nhận 03 dây hụi bà N hốt được 105.000.000 đồng, theo thoả thuận với hụi viên thì 10 ngày sau sẽ nạp hụi, nhưng do bà Đ không gom được hụi nên chưa nạp hụi được cho bà N. Bà Đ cho rằng sau khi Tổ hòa giải ấp A, xã T hòa giải thì vài ngày sau đó bà trả nhiều lần và trả hết số tiền này cho bà N nhưng bà N không thừa nhận và bà Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho ý kiến phản đối của bà là có căn cứ và pháp. Do đó, kháng cáo của bà Đ là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Vũ M yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách với lý do ông không liên quan và không có vai trò trách nhiệm gì trong các dây hụi, phần tiền mượn, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Đối với việc vay nợ thì giữa nguyên đơn với bị đơn có làm biên nhận, bà Đ thừa nhận có việc vay nợ và hiện còn thiếu số tiền vay, đối với tiền hụi thì ông M cho rằng ông không có liên quan và không có vai trò trách nhiệm gì trong các dây hụi do bà Đ làm đầu thảo. Theo quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình thì ông M phải có nghĩa vụ liên đới với bà Đ trong việc thực hiện nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cần thiết yếu của gia đình. Đồng thời, theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là kiện ông M và bà Đ. Do đó, kháng cáo của ông M là không có căn cứ chấp nhận
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị đơn bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Điều 18, Điều 23, Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, về hụi, họ, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận việc rút một phần đơn khởi kiện và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M trả số tiền mượn 24.000.000 đồng.
- Buộc bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H số tiền vốn vay 241.000.000 đồng và tiền hụi 105.000.000 đồng. Tổng cộng là 346.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu đồng).
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trịnh Phúc Đ và ông Trịnh Vũ M phải chịu án phí là 17.300.000 đồng
Bà Nguyễn Thị N, ông Lâm Văn H không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.250.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006152, ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
* Về án phí dân sự phúc thẩm:
- - Các bị đơn bà Trịnh Phúc Đ, ông Trịnh Vũ M, mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Khấu trừ vào số tiền mỗi bị đơn đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010451 và số 0010452 cùng ngày 29/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Các bị đơn bà Trịnh Phúc Đ, ông Trịnh Vũ M đã thực hiện xong án phí phúc thâm.
- * Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- * Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 154/2023/DS-PT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 154/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ Nh - H tranh chấp HĐV và HĐ góp hụi với BĐ D - M
