TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày: 24 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Phước. |
| Ông Phạm Hữu Thắng. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh ngày: 04/01/2000 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Huỳnh Thị C; vợ Nguyễn Thị T, con: Chưa có; tiền sự, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/7/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Bà Trịnh Kiều T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số D, đường Đ, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần V - Chi nhánh P. Địa chỉ: số B đường H, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại điện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Thủy T2 – Nhân viên Chi nhánh P. Địa chỉ: Số B đường H, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt, theo văn bản ủy quyền ngày 19/9/2024).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 01 năm 2024, trong lúc lau dọn nội thất tại cửa hàng thì bị cáo Q phát hiện cửa két sắt để ở góc bàn tại khu vực để sổ sách và thanh toán của cửa hàng đang hé mở, lúc này Q thấy không có ai nên nãy sinh lấy trộm tài sản trong két sắt. Quá đi đến chỗ két sắt, dùng tay lấy sáu tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng rồi để vào túi quần đang mặc, sau đó Quá đóng cửa két sắt lại và đi ra phía trước trông coi cửa hàng. Đến khoảng 15 giờ, bà T1 đi đến cửa hàng vào khu vực để sổ sách, một lúc sau bà T1 đi về nhà. Lúc này, Q đi ngang phát hiện bà T1 để quên túi xách, Q đi ra ngoài quan sát không thấy bà T1 nên dùng tay lục trong túi xách thì lấy được chùm chìa khóa gồm có nhiều chìa nên Q cầm một chìa ghim vào ổ khóa két sắt nhưng không mở được, lúc này Q giả vờ đi xung quanh để vừa quan sát vừa đổi qua chìa khóa khác, khi đổi đến chìa thứ ba thì Quá mở được cửa két sắt. Quá dùng tay lấy ra một túi vải nhỏ màu đỏ, có dây rút màu vàng cầm trên tay rồi khóa cửa tủ két sắt lại và cất chùn chìa khóa vào túi xách của bà T1.
Sau đó, Q đi ra phía bên phải cửa hàng (hướng bên đường Đ) kiểm tra bên trong túi vải màu đỏ vừa trộm được thì thấy có một túi nhỏ bằng nhựa trong suốt, bên trong có một chiếc nhẫn màu trắng có đính đá và một viên đá màu trắng nên Q lấy túi nhựa có chứa một chiếc nhẫn màu trắng có đính đá và một viên đá màu trắng để vào túi quần đang mặc, rồi tiếp tục đi lấy chùm chìa khóa trong túi xách mở cửa két sắt và để túi vải màu đó lại chỗ cũ. Lúc này, Q thấy bên trong két sắt có một miếng vàng hình ông thần tài nên Quá lấy cầm trên tay trái, còn tay phải thì khóa cửa két sắt lại rồi đi cất chùm chìa khóa trong túi xách, sau đó tiếp tục làm việc. Đến khoảng 17 giờ, Q để tất cả tài sản trộm được của bà T1 vào cốp yên xe của Q rồi điều khiển xe đến Trung tâm P, số A, đường T, Phường C, thành phố S bán miếng vàng hình ông thần tài được số tiền 6.290.000 đồng. Còn bà T1, sau khi phát hiện tải sản bị mất, bà T1 đến Công an P1, thành phố S trình báo sự việc.
Tại kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) miếng vàng 0,99965333 chỉ, loại 24K, mặt trước có hình ông thần tài, có chữ PNJ và PNJ999.9, với giá 7.512.395 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn vàng màu trắng 2,96768 chỉ, hàm lượng vàng: 80,50%; đồng: 13,44%; kẽm: 5,90%, với giá 15.176.700 đồng; 01 (một) viên kim cương thiên nhiên có kích thước 7.15-7.20 x 4.31mm, trọng lượng 1.34 ct (carat), độ sạch VS1, với giá 90.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 154/CT-VKSTPST ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điển điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Về vật chứng: Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng quản lý số tiền 1.765.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của Công ty cổ phần V - Chi nhánh P yêu cầu bị cáo bồi thường 6.290.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị ghi nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại bà Trịnh Kiều T1 vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 01 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn Q có hành vi lén lút lấy trộm một miếng vàng 0,99965333 chỉ, loại 24K, mặt trước có hình ông thần tài, có chữ PNJ và PNJ999.9, có giá 7.512.395 đồng; một chiếc nhẫn vàng màu trắng 2,96768 chỉ, có giá 15.176.700 đồng; một viên kim cương thiên nhiên có kích thước 7.15-7.20 x 4.31mm, trọng lượng 1.34 ct (carat), độ sạch VS1, có giá 90.000.000 đồng và tiền Việt Nam 60.000 đồng của bà Trịnh Kiều T1 tại cửa hàng T3, số A, đường H, Khóm B, Phường A, thành phố S. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Q chiếm đoạt là 112.749.095 đồng.
- [4] Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản, số tiền chiếm đoạt là 112.749.095 đồng nên thuộc tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS quy định: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng). Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [7] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
- [8] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.765.000 đồng là tiền do bán tài sản trộm cắp mà có nên tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng quản lý để đảm bảo thi hành án.
- [9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần V - Chi nhánh P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.290.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường, việc thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
- [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- [11] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
- Về vật chứng: Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng quản lý số tiền 1.765.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Theo Biên lai thu tiền số 0001225 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần V - Chi nhánh P số tiền 6.290.000 đồng (sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 314.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
6
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
