Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Văn Dậu, bà Nghiêm Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 02/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024 đối với:

1. Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1971; Nơi đăng kí HKTT: Thôn K, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị L; Có vợ là Hoàng Thị S và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2003;

Tiền án: Tại Bản án số 126/2021/HSST ngày 25/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn H 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. H đã chấp hành xong ngày 25/9/2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 383 ngày 22/6/1994, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn H 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985 và 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân” theo quy định tại khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985. Buộc H phải chịu hình phạt chung cho 2 tội là 4 năm 10 tháng tù. H đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Tại Bản án số 78/2006/HSST ngày 30/6/2006, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn H 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm về tội “Cố ý gây thương tích”. H đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại:

2.1 Ông Nghiêm Đình M, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Anh Nghiêm Đình H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

2.2 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1936; ông Nghiêm Đình M, sinh năm 1958; Anh Nghiêm Đình H2, sinh năm 1988; Cùng địa chỉ: Thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Chị Nghiêm Thị N2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N1, ông M, chị N2: Anh Nghiêm Đình H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Chị Hoàng Thị S, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

3.2 Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 15/02/2024, tại đoạn đường T thuộc thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Văn H không có giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ariblade BKS 99D1-412-33 theo hướng thị trấn C - Y. Do không chú ý quan sát nên H đã đâm vào đuôi xe máy điện (không gắn biển kiểm soát) của ông Nghiêm Đình M điều khiển chở bà Nguyễn Thị N ngồi sau đi phía trước cùng chiều làm ông M, bà N bị hất văng lên rồi ngã xuống đường, xe máy điện trượt đổ ra đường. Hậu quả, ông M bị thương, bà N chết. Sau đó H đã bỏ trốn khỏi hiện trường, không cứu giúp người bị nạn.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của bà N và tại bản Kết luận giám định số 588/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị N là do chấn thương sọ não nặng”.

Tại Công văn số 1417/CV-PC09 ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B trả lời: "Cơ chế hình thành vết thương của bà Nguyễn Thị N: Vết phù nề, bầm tím vùng đỉnh chẩm hai bên của bà N là do vật tày, cứng tác động trực tiếp gây ra. Vết sây sát da vùng trán phải, vùng gò má bên phải, khủy tay phải và mắt cá ngoài chân phải là do vật tày diện rộng, bề mặt thô ráp tác động trực tiếp gây ra. Vết sây sát da và bầm tím vùng thắt lưng bên phải đến vùng thắt lưng hông bên phải là do vật tày bản cứng, diện hẹp và dài tác động trực tiếp gây ra. Vết bầm tím ở mặt sau ngoài 1/3 trên căng tay phải là do vật tày diện giới hạn tác động trực tiếp gây ra; Vết thương dẫn đến nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị N là do vết phù nề, bầm tím vùng đỉnh chẩm hai bên làm vỡ lún phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm bên trái, vết vỡ lan ra vùng xương thái dương bên trái".

Tại bản Kết luận giám định số 883/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: “Dấu vết trượt xước, bám chất màu xanh, màu đen tại mặt trước trên ốp nhựa bên trái trên xe môtô biển số 99-D1 412.33 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, mất sơn tại mặt dưới ốp nhựa đèn báo rẽ sau bên phải trên xe máy điện không biển số (ảnh 6 trong bản ảnh giảm đi sau bên phải trên xe máy điện máy điện không biên số tại vị trí này có chiều từ sau ra trước;

Dấu vết hằn, trượt xước tại mặt trước bên trái tấm nhựa che phía sau bánh trước trên xe môtô biển số 99D1-412-33 (ảnh 9 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vế trượt, bám chất màu đen tại mặt sau ốc đầu trục bên phải bánh sau trên xe máy điện không biển số (ảnh 10 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên xe máy điện không biển số tại vị trí này có chiều từ sau ra trước.

Dấu vết trượt tại mặt lăn, mặt thành lốp bên phải bánh sau trên xe môtô biển số 29-M9 4295 (ảnh 15 trong bản ảnh giám định) có chiều từ mặt lăn vào thành lốp, phù hợp với dấu vết in, trượt tại mặt thành lốp bên trái bánh trước trên xe máy điện không biển số (ảnh 16 trong bản ảnh giám định) khi xe máy điện này đã đổ nghiêng bên trái trên mặt đường và bánh trước đã xoay sang trái, về sau. Dấu vết va chạm trên xe máy điện không biên số tại vị trí này có chiều in từ trái sang phải, chiều trượt từ thành lốp ra mặt lăn.

Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe môtô biển số 29M9-4295 với xe môtô biển số 99D1-412.33".

Tại bản Kết luận giám định số 608/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: “Chất màu xanh lá cây, xanh dương trên mành nhựa màu đen-bạc của xe máy BKS: 99D1-412.33 là sơn, cùng loại với mẫu sơn màu xanh lá cây, xanh dương thu tại xe máy điện nhãn hiệu Momentum không gắn biển kiểm soát làm mẫu so sánh".

Tại bản Kết luận giám định số 60/KLTTCT-TTPY ngày 27/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm Đình M tại thời điểm giám định là: 78% (bẩy mươi tám phần trăm)”.

Các biên bản khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đều thể hiện nguyên nhân xảy ra tai nạn là do bị cáo Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, không chú ý quan sát đã đâm vào xe máy điện nhãn hiệu Momentum do ông M điều khiển chở bà N đi cùng chiều phía trước, hậu quả làm ông M bị thương, bà N chết.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bị cáo không có giấy phép lái xe mô tô, vào hồi 04 giờ ngày 15/02/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ariblade BKS 99D1-412-33 theo hướng thị trấn C - Y đến đoạn đường TL 286 thuộc thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, không chú ý quan sát đã đâm vào đuôi xe máy điện do ông Nghiêm Đình M điều khiển chở bà Nguyễn Thị N ngồi sau đi phía trước cùng chiều làm ông M bị tổn thương cơ thể 78%, bà N chết. Bị cáo đã bỏ trốn khỏi hiện trường, không đưa ông M, bà N đi cấp cứu. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 90.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường theo quy định của pháp luật.

Bị hại là ông M do người đại diện theo ủy quyền yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông M các khoản bao gồm:

Chi phí khám bệnh tại bệnh viện gồm tiền thuốc, viện phí có hóa đơn: 81.643.535 đồng;

Chi phí thuê xe khám bệnh: 3.000.000 đồng.

C 02 người chăm sóc những ngày ở bệnh viện trong thời gian 27 ngày, trong đó ông Nghiêm Đình T1 làm lái xe tự do nên đề nghị tính theo quy định của pháp luật. Chị N2 theo bảng lương đã nộp 27 x 937.077 đồng/ngày = 26.273.000 đồng.

Tiền mất thu nhập: 27 ngày x 2.340.000 đồng/26 ngày = 2.430.000 đồng;

Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 27 ngày x 2.340.000 đồng/26 ngày = 2.430.000 đồng;

Tiền tổn thất về tinh thần: 50 x 2.340.000 đồng = 117.000.000 đồng.

Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentum ông M xin được nhận lại. Khi mua chiếc xe đã cũ, thời gian đã lâu không nhớ, hiện tại giá trị khoảng 500.000 đồng, phần hư hỏng không đáng kể nên ông M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Đại diện hợp pháp của bà N do người đại diện theo ủy quyền yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho đại diện hợp pháp của nhà N (gồm bà N3, ông M, anh H2, chị N2) bao gồm các khoản:

Chi phí tại bệnh viện được bảo hiểm thanh toán nên không yêu cầu;

Chi phí thuê xe vận chuyển từ viện về nhà và chuyển viện từ Y lên Bắc Ninh: 3.000.000 đồng.

Chi phí mua quan tài: 3.500.000 đồng;

Chi phí thuê kèn, trống: 5.500.000 đồng;

Chi phí thuê xe đi Thái Nguyên hỏa táng: 5.000.000 đồng;

Chi phí hỏa táng: 6.400.000 đồng;

Chi phí mua khăn tang, khâm niệm: 9.480.000 đồng;

Chi phí mua quách tiểu, chôn: 8.500.000 đồng.

Tiền tổn thất về tinh thần: 100 x 2.340.000 đồng = 234.000.000 đồng.

Tổng số tiền bồi thường do tính mạng bị xâm phạm là 41.380.000 đồng + 234.000.000 đồng = 275.780.000 đồng.

Gia đình bị hại đã nhận của gia đình bị cáo số tiền 90.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho gia đình bị hại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Thị S đã thay bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 90.000.000 đồng. Số tiền này chị không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho chị.

Bà Nguyễn Thị T không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông, không đề nghị giám định và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/4/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 và Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 48 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho những người đại diện hợp pháp của bà N (bà N3, ông M, anh H2, chị N2) tổng số tiền từ 193.800.000 đồng đến 205.800.000 đồng, được trừ 90.000.000 đồng đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp số tiền từ 103.800.000 đồng đến 115.800.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông M tổng số tiền từ 213.000.000 đồng đến 236.700.000 đồng.

Về chiếc xe máy điện bị hư hỏng do ông M không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo H 01 xe máy Honda Ariblade BKS 99D1-412-33 và 01 giấy đăng ký xe máy số 029729. Trả lại cho ông M 01 xe máy điện nhãn hiệu Momentum. Tịch thu tiêu hủy 09 mảnh nhựa màu đen.

Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt cũng như các vấn đề khác. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 15/02/2024, bị cáo Nguyễn Văn H không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ariblade BKS 99D1-412-33 theo hướng thị trấn C - Y đến đoạn đường TL 286 thuộc thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, không chú ý quan sát đã đâm vào đuôi xe máy điện do ông Nghiêm Đình M điều khiển chở bà Nguyễn Thị N ngồi sau đi phía trước cùng chiều làm ông Nghiêm Đình M bị tổn thương cơ thể 78%, bà Nguyễn Thị N chết. Bị cáo đã bỏ trốn khỏi hiện trường, không đưa ông M, bà N đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 9, khoản 17, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông và lưu thông của các phương tiện trên đường, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người tham gia giao thông mà còn gây hoang mang, lo lắng cho mọi người khi tham gia giao thông. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế, phương tiện tham gia giao thông tăng cả về số lượng và chủng loại, vì thế người tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn giao thông. Tuy nhiên, khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ đã gây ra tai nạn làm cho ông M bị thương, bà N chết. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự và áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, góp phần nâng cao ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông, tạo sự yên tâm, tin tưởng cho mọi người khi tham gia giao thông.

[4] Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần về các tội trộm cắp tài sản của công dân, cố ý gây thương tích, đánh bạc. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động đến gia đình nên vợ bị cáo đã thay bị cáo đến thăm hỏi gia đình bị hại và bồi thường 90.000.000 đồng. Khi tham gia giao thông, bị hại cũng có một phần lỗi xe không có đèn. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đã bị xét xử về tội đánh bạc chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi vô ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

5.1 Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:

Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho bà N3, ông M, anh H2, chị N2 tổng số tiền 41.380.000 đồng, gồm các khoản:

Chi phí thuê xe vận chuyển từ viện về nhà và chuyển viện từ Y lên Bắc Ninh: 3.000.000 đồng.

Chi phí mua quan tài: 3.500.000 đồng;

Chi phí thuê kèn, trống: 5.500.000 đồng;

Chi phí thuê xe đi Thái Nguyên hỏa táng: 5.000.000 đồng;

Chi phí hỏa táng: 6.400.000 đồng;

Chi phí mua khăn tang, khâm niệm: 9.480.000 đồng;

Chi phí mua quách tiểu, chôn: 8.500.000 đồng.

Các khoản tiền yêu cầu này là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với khoản tiền tổn thất về tinh thần chấp nhận 50 lần mức lương cơ sở là 117.000.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo H phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là 158.380.000 đồng.

5.2 Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

Ông M yêu cầu bị cáo H phải bồi thường cho ông các khoản tiền bao gồm:

Chi phí khám bệnh tại bệnh viện gồm tiền thuốc, viện phí có hóa đơn: 81.643.535 đồng;

Chi phí thuê xe khám bệnh: 3.000.000 đồng.

Công 02 người chăm sóc trong 27 ngày ở bệnh viện, trong đó chị N2 theo bảng lương có xác nhận của Công ty B x 973.077 đồng/ngày = 26.273.000 đồng; ông T1 không có lương, không có chứng cứ chứng minh thu nhập nên được xác định 27 x 100.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng. Tổng là 28.973.000 đồng.

Tiền mất thu nhập: 27 ngày x 2.340.000 đồng/26 ngày = 2.430.000 đồng;

Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 27 ngày x 2.340.000 đồng/26 ngày = 2.430.000 đồng;

Các khoản tiền này là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với khoản tiền tổn thất về tinh thần chấp nhận 25 lần tháng lương cơ sở là 58.500.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo H phải bồi thường cho ông M 176.976.535 đồng.

Như vậy, bị cáo H phải bồi thường cho gia đình ông M tổng số tiền 176.976.535 + 158.380.000 = 335.356.535 đồng, được trừ số tiền 90.000.000 đồng đã bồi thường, bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 245.356.535 đồng.

Đối với chiếc xe máy điện Momnentum ông M không yêu cầu bồi thường thiệt hại phần hư hỏng nên không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng:

Chiếc xe máy điện Monentum là tài sản hợp pháp của ông M nên trả lại cho ông M.

Chiếc xe máy Honda Ariblade BKS 99D1-412-33 và 01 giấy đăng ký xe máy số 029729 là tài sản của bị cáo H nên trả lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

09 mảnh nhựa màu đen không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu QUICKNEWWAVE, BKS: 29M9-4295 do bà T điều khiển quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của bà T.

Đối với bà Nguyễn Thị T không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông nêu trên nhưng có các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ gồm: Điều khiển xe mô tô đi ngược chiều vòng xuyến; Không có giấy phép lái xe quy định; Không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Ngày 3/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã chuyển tài liệu và vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô BKS: 29M9- 4295 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số A0576581, 01 chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu màu đen đến đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Y để xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với bà T.

Đối với ông M điều khiển xe máy điện không có đèn chiếu sáng, đèn cảnh báo và không gắn biển kiểm soát hiện bị thương nặng, Cơ quan điều tra đã nhắc nhở đối với ông M là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 và Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 106; Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/4/2024.
  4. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  5. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường do tính mạng bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị N4, ông Nghiêm Văn M1, anh Nghiêm Văn H3 và chị Nghiêm Thị N2 số tiền 158.380.000 đồng.
  6. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nghiêm Văn M1 số tiền 176.976.535 đồng.
  7. Tổng số tiền bị cáo H phải bồi thường cho gia đình ông M1 335.356.535 đồng được trừ số tiền 90.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp số tiền 245.356.535 đồng
  8. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  9. Trả lại cho bị cáo H 01 xe máy Honda Ariblade BKS 99D1-412-33 và 01 giấy đăng ký xe máy số 029729 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  10. Trả lại cho ông M1 01 xe máy điện nhãn hiệu Momentum.
  11. Tịch thu tiêu hủy 09 mảnh nhựa màu đen.
  12. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 12.267.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  13. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger