Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh

2. Ông Lê Đình Hiệp

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương L - Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLHS-ST, ngày 24/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HS, ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hồng N; sinh ngày 25/12/2002, tại Thái Nguyên.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam;

Hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Lê Hồng T, sinh năm 1978. Con bà: Hoàng Thị N1, sinh năm 1984. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến ngày 10/5/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

  • Anh Vũ Tuấn P, sinh năm 2001 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang

  • Anh Dương Nguyễn Huy H, sinh năm 2005 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Trần Nam T1, sinh năm 2002 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: TDP B, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Vũ Mạnh T2, sinh năm 2004 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Lê Hồng T, sinh năm 1978 (có mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Lê Diệu T3, sinh năm 2007 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

  • Người đại diện cho anh T3: Bà Trần Thị B, sinh năm 1979 (có mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Hoàng Đức M, sinh năm 2002 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

  • Chị Phạm Ngọc A, sinh năm 2002 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Bùi Ngọc L1, sinh năm 2001 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Lê Hồng N là sinh viên trường Đại học C và làm thêm công việc giao hàng trên địa bàn thành phố T. N tham gia các nhóm chuyên về giao hàng nhanh trên mạng xã hội. Tháng 01/2024 do nợ tiền của nhiều người không có khả năng trả nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người làm nghề giao hàng khác. N chuẩn bị các gói hàng bọc kín bên trong có bìa cát tông, bên ngoài ghi thông tin khách hàng, số điện thoại của người khác (những người này không có thật hoặc không có nhu cầu mua hàng hóa bằng hình thức trên) rồi liên hệ tìm người vận chuyển đơn hàng. Khi gặp người giao hàng, N yêu cầu thanh toán tiền các đơn hàng cho N và nói với người giao hàng sẽ nhận tiền hàng và tiền công vận chuyển từ người nhận hàng.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/02/2024, N liên hệ và hẹn anh Dương Nguyễn Huy H (sinh năm 2005, HKTT: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) đến khu vực quán B1 thuộc tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. N nói dối anh H là có 11 đơn hàng là quần áo, đồ dùng cá nhân với giá trị từ 140.000 đồng - 240.000 đồng, N thuê anh H với giá 30.000 đồng/đơn và đề nghị anh Hoàng ứ trước tiền hàng 1.400.000 đồng sẽ nhận tiền hàng và tiền công vận chuyển từ người nhận hàng. Do tin tưởng N nên anh H đã chuyển số tiền 1.400.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng M1 là tài khoản của anh Lê Diệu T3 (sinh năm 2007, HKTT: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là em họ của N) do N cung cấp. Sau khi chuyển tiền, anh H nhận 11 gói hàng từ N và mang đi giao, khi đến địa chỉ ghi trên gói hàng anh Hoàng liên h thì chủ số điện thoại cho biết không mua bất kỳ mặt hàng nào. Sau đó, anh H mở các gói hàng ra kiểm tra thì phát hiện bên trong là cát và bìa cát tông.

Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, N mang theo 01 thùng cát tông trong có 16 gói hàng do N chuẩn bị đến khu vực chân cầu vượt đường B kéo dài giao với đường V, đoạn thuộc tổ H, phường Q, thành phố T gặp anh Trần Nam T1 (sinh năm 2002, HKTT: Tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên); anh Vũ Tuấn P (sinh năm 2001) và anh Vũ Mạnh T2 (sinh năm 2004) cùng HKTT: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (đều làm nghề giao hàng). N nói “Có 16 đơn hàng là quần áo, đồ dùng cá nhân, tai nghe điện thoại cần chuyển đi mọi người tự chọn xem giao được đơn nào thì nhận”. N đề nghị anh T1, anh T2 và anh P ứng trước tiền hàng và sẽ nhận tiền hàng cùng tiền công vận chuyển từ người nhận hàng, do tin tưởng N nên cả ba người đồng ý. Lúc này, anh T2 chọn 05 đơn tổng giá trị ghi trên bao bì là 810.000 đồng và chuyển số tiền trên đến tài khoản Ngân hàng MB số 8881506007 của anh T3 do N cung cấp. Anh T1 chọn 06 đơn tổng giá trị ghi trên bao bì là 1.040.000 đồng, anh P chọn 05 đơn tổng giá trị ghi trên bao bì là 780.000 đồng. Anh T1 và anh P đưa tiền mặt cho N. Anh T2, anh T1 và anh P đi giao nhưng không có người nào nhận hàng nên kiểm tra đơn hàng phát hiện bên trong là cát và bìa cát tông.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội N đi về phòng trọ và yêu cầu anh Lê Diệu T3 chuyển số tiền đã chiếm đoạt được cho N. Tổng số tiền N chiếm đoạt được trong ngày 06/02/2024 của anh Dương Nguyễn Huy H, Trần Nam T1, Vũ Tuấn P, Vũ Mạnh T2 là 4.030.000 đồng. Số tiền trên N đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/01/2024, với thủ đoạn tương tự N đã chiếm đoạt số tiền 1.840.000 đồng của anh Bùi Ngọc L1 (sinh năm 2001, HKTT: Xóm B, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang).

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/02/2024, N tiếp tục dùng thủ đoạn tương tự để chiếm đoạt số tiền 1.300.000 đồng của chị Phạm Ngọc A (sinh năm 2002, HKTT: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) tại khu vực chùa P1 thuộc phường H, thành phố T. Chị Ngọc A đã chuyển 1.200.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng M2 mang tên Hoàng Đức M (sinh năm 2002, HKTT: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) do N cung cấp và đưa 100.000 đồng tiền mặt cho N. Sau đó N bảo anh Mạnh c lại vào số tài khoản BIDV của N là 3902178401. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, N tiếp tục hẹn người giao hàng ra khu vực bến xe T thì bị phát hiện và trình báo sự việc đến Công an phường H, thành phố T.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Hồng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản xác định hiện trường; sơ đồ hiện trường và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 thùng bìa cát tông KT (45x32x26)cm bị cắt nham nhở; 01 chiếc kéo có chuôi cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu vàng, đã qua sử dụng; 11 túi nilon KT khoảng (25x30)cm, màu hồng, được dán kín các mép; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2826; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2800; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2838, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2792, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2784, không chứa sim; 01 thẻ sim số mã là 898404800 0919079462; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, đã qua sử dụng, niêm phong trong 01 phong bì giấy dán kín. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Về dân sự, bị cáo Lê Hồng N đã bồi thường thiệt hại cho anh D Nguyễn Huy H, Trần Nam T1, Vũ Tuấn P, Vũ Mạnh T2 tổng số tiền là 4.030.000 đồng; bồi thường cho anh Bùi Ngọc L1 số tiền 1.840.000 đồng; bồi thường cho chị Phạm Ngọc A số tiền 1.300.000 đồng. Anh Dương Nguyễn Huy H, Trần Nam T1, Vũ Tuấn P, Vũ Mạnh T2, Bùi Ngọc L1 và chị Phạm Ngọc A không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N.

Tại Bản cáo trạng số 146/CT-VKSTPTN, ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Hồng N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hồng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Hồng N từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định.
  • Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.
  • Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng bìa cát tông KT (45x32x26)cm bị cắt nham nhở; 01 chiếc kéo có chuôi cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu vàng, đã qua sử dụng; 11 túi nilon KT khoảng (25x30)cm, màu hồng, được dán kín các mép; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2826; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2800; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2838, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2792, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2784, không chứa sim; 01 thẻ sim số mã là 898404800 0919079462;

Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, đã qua sử dụng, niêm phong trong 01 phong bì giấy dán kín.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo xin lỗi gia đình, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Hồng N2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 06/02/2024 tại địa bàn thành phố T, do không có tiền chi tiêu cá nhân, Lê Hồng N đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Dương Nguyễn Huy H, Trần Nam T1, Vũ Tuấn P, Vũ Mạnh T2 tổng số tiền là 4.030.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 174. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, trong vụ án này là quyền sở hữu tài sản của anh Dương Nguyễn Huy H, anh Vũ Tuấn P, anh Trần Nam T1, anh Vũ Mạnh T2, chị Phạm Ngọc A, anh Bùi Ngọc L1. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

  • Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả”, “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, mặc dù chưa có tiền án, tiền sự gì, tuy nhiên bị cáo ham chơi dẫn đến bản thân nợ tiền của nhiều người đây là vấn đề nhân thân được HĐXX xem xét cân nhắc trong quá trình nghị án. Bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, không chịu lao động, chỉ vì không tiền tiêu xài cá nhân mà lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp.

[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Hồng N được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tuổi đời con trẻ lại có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Tại địa phương bị cáo không có vi phạm pháp luật. Trong quá trình bị tạm giữ, tạm giam bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật. HĐXX xét thấy cần mở lượng khoan hồng của pháp luật, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nơi cư trú, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương vẫn đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Đối chiếu theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo Lê Hồng N mức án từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[6]. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Hồng N, buộc bị cáo không được rời khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo để quản lý, theo dõi.

[7]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản gì.

[8]. Về dân sự: Đã giải quyết xong, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.

[9]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng bìa cát tông KT (45x32x26)cm bị cắt nham nhở; 01 chiếc kéo có chuôi cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu vàng, đã qua sử dụng; 11 túi nilon KT khoảng (25x30)cm, màu hồng, được dán kín các mép; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2826; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2800; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2838, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2792, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2784, không chứa sim; 01 thẻ sim số mã là 898404800 0919079462;

- Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, đã qua sử dụng, niêm phong trong 01 phong bì giấy dán kín.

[10]. Vấn đề khác: Đối với anh Lê Diệu T3, anh Hoàng Đức M là người cho bị cáo Ngọc m số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền đến nhưng anh T3 và anh M không biết bị cáo dùng tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với anh T3 và anh M.

Đối với hành vi của Lê Hồng N chiếm đoạt số tiền là 1.840.000 đồng của anh Bùi Ngọc L1 ngày 30/01/2024 và số tiền 1.300.000 đồng của chị Phạm Ngọc A vào ngày 26/02/2024, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N.

[11]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hồng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Hồng N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2024.

Giao bị cáo Lê Hồng N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án hình sự.

  1. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Hồng N, buộc bị cáo không được rời khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo để quản lý, theo dõi.
  2. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng bìa cát tông KT (45x32x26)cm bị cắt nham nhở; 01 chiếc kéo có chuôi cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu vàng, đã qua sử dụng; 11 túi nilon KT khoảng (25x30)cm, màu hồng, được dán kín các mép; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2826; 01 thẻ sim và khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2800; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2838, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2792, không chứa sim; 01 khay nhựa để sim có số mã vạch là 8984 050 923 171934 2784, không chứa sim; 01 thẻ sim số mã là 898404800 0919079462;

- Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì giấy dán kín.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 99/QĐ-VKSTPTN ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Hồng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (fraudulent appropriation of property)

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Fraudulent appropriation of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger