Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 154/2025/HS-ST

Ngày: 21/3/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng

2. Ông Nguyễn Đình Vụ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Vân A - Kiểm sát viên

Ngày 21/ 3/ 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/2025/HSST ngày 17/ 01/ 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST- HS ngày 14/02/2025 đối với bị cáo:

Vi Bá T; Sinh ngày: 12/7/1985; Nơi đăng ký cư trú: KP. T, Thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi tạm trú: Thôn Y, xã X, N, Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn Y, xã X, N, Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 8 /12; Nghề nghiệp: Lái xe; Thẻ CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Con ông: Vi Bá D - Đã chết; Con bà: Trần Thị T1 - Đã chết; Mẹ kế: Quách Thị T2 - Sinh năm: 1966 - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vợ: Võ Thị Cẩm V – Sinh năm: 1985; Con: Có 01 con, sinh năm: 2016 (Vợ con đều trú tại: Thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước); Là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/12/2010 TAND huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 13/8/2012 T đã chấp hành xong hình phạt tù và ngày 04/5/2011 đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/10/2024 đến nay.

Bị hại : Cháu Trần Lê Đức M, sinh ngày 04/12/2009 ( đã chết).

Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Anh Lê Trần H – sinh 1979 ( bố bị hại);
  2. Chị Lê Thị H1 - sinh 1981 ( mẹ bị hại);

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại tham gia tố tụng: Anh Lê Trần H – sinh 1979 (bố bị hại);

Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Luật sư Nguyễn Thị O, sinh năm 1965 - Văn phòng L thuộc đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ: Số D, tổ A N, phường Đ, quận L, Thành phố Hà Nội.

Bị đơn dân sự : Ông Lê Bá C, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Khu phố H, Phường R, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên có mặt bị cáo; anh Lê Trần H; anh Lê Bá C và Luật sư Nguyễn Thị O.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 55 phút ngày 03/10/2024, Vi Bá T có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44 đi từ đường nhánh thuộc mặt bằng 725 khu dân cư thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa ra khu vực ngã ba giao nhau giữa đường nối Quốc lộ D, Quốc lộ D (đường chính), do không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe máy do cháu Lê Trần Đức M1, sinh ngày 04/12/2009 ở thôn B, xã Đ, huyện Đ ( nay là Thành phố T) đang đi trên đường chính (theo hướng Quốc lộ D đi Quốc lộ D), nên đã xảy ra va chạm với xe máy, dẫn đến cháu M1 và chiếc xe máy đổ xuống đường. T phanh xe ô tô và xuống xe kiểm tra thì phát hiện cháu M1 nằm trên chiếc xe máy, T đưa cháu M1 đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đ cấp cứu. Đến 17 giờ cùng ngày thì cháu M1 tử vong.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại khu vực ngã 3 giao nhau giữa đường trục đường nối QL45 sang QL47 và trục đường vào mặt bằng 725, thôn V, xã Đ, huyện Đ ( nay là Thành phố T). Hiện trường không còn nguyên vẹn, người bị thương đã được đưa đi cấp cứu, phương tiện và người qua lại đã làm ảnh hưởng đến dấu vết trên mặt đường.

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường đôi của trục đường nối QL45 sang QL47, chiều đường bên phải tính theo chiều QL45 sang QL47 có mặt đường rải nhựa thẳng, phẳng rộng 10m, có đường rẽ vào mặt bằng 725 Đ, mặt đường rẽ có chiều rộng 7m40 được rải nhựa thẳng, phẳng có kẻ gờ giảm tốc

trước khi ra đường nối, trước, trong khu vực ngã 3 giao cắt không có biển báo về giao thông đường bộ, trên chiều đường bên phải của trục đường đôi đường QL45 sang QL47 để lại các vết cà, vết máu và xe máy nằm đổ bên phải chiều đường, bên trái có xe ô tô tải 36C-002.44 đầu xe hướng về QL 45.

Hội đồng khám nghiệm thống nhất lấy tụ điện miền bắc bên lề đường phải và tâm đường rẽ làm điểm mốc kéo đường thẳng qua mặt đường rẽ theo mép đường của trục đường nối làm chuẩn, đồng thời khám nghiệm dấu vết trên mặt đường theo chiều từ phải qua trái theo chiều từ QL45 sang QL47 cụ thể như sau:

1. Đám vết cà có đặc điểm gồm nhiều vết cà tỳ xuống mặt đường làm trớt mặt đường tạo thành đám vết màu trắng ngà trên mặt đường vết có kích thước 2m x 0,87cm vết có chiều từ phải qua trái hơi chếch về hướng QL45 đầu vết cà vào mép đường chuẩn là 3m20 đến tâm đường rẽ là 4m, đến bốt điện (điểm chuẩn) là 16m cuối vết cà trùng với giá để chân trước bên phải, đầu mút cần số, cần phanh, giá để chân sau bên phải.

2. Xe gắn máy màu sơn đen trắng không đeo biển số có số máy BVHL 139FMB VTE 704.079, xe bị vỡ nát đầu xe nằm đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng về QL47 hơi chếch sang trái, từ trục xe vào đường chuẩn là 5m10, trục sau xe vào mép đường chuẩn là 4m70.

3. Đám vết máu có đặc điểm là chất màu đỏ bám dính loang lổ trên mặt đường nhựa tạo thành đám có kích thước 1m10 x90cm tâm đám vào mép đường là 4m tâm đám cách đầu vết là 1m20

4. Xe ô tô 36C-002.44 dừng bên chiều đường bên trái đầu xe hướng về QL45 chếch về lề đường trái, bên hông trái xe từ vị trí thanh bảo vệ gồm bình dầu bị méo, cong vênh, tỳ trớt kim loại, từ trục trước xe ô tô đếm mép đường chuẩn là 19m40 từ trục sau xe vào mép đường chuẩn là 18m50, từ trục sau bên trái xe ô tô cách trục trước xe gắn máy là 17m20.

* Kết quả khám nghiệm tử thi: Tại Bản kết luận giám định số 3832/KLGĐTT-PC09 ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“1.1. Kết quả khám nghiệm:

  • Các vết rách da, xây, bầm tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, cổ, ngực, bụng, bẹn, vai, tay phải, hai chân.
  • Mũi có nhiều dịch bọt máu hồng thoát ra.
  • Gãy cổ xương đùi phải.
  • Gãy 1/3 dưới xương đùi phải.
  • Chấn thương ngực - bụng:
    • + Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng hai bên.
    • + Dịch máu không đông tại: K ngực hai bên và ổ bụng.
    • + Hai phổi căng, nhu mô phổi kém xốp; dập, tụ máu diện rộng hai phổi.
    • + Dịch bọt màu trắng hồng và dịch màu hồng lấp đầy lòng thanh, khí, phế quản.
    • + Tụ máu đại tràng bên phải và hệ thống mạc treo đại tràng phải.

2. Kết luận:

2.1. Kết luận nguyên nhân chết do đa chấn thương”,

Tại kết luận giám định số 3926/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“+ Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt sau ngoài trên thanh dọc phía dưới và mặt sau ngoài thanh dọc phía trên khung chắn gầm bên trái xe ô tô biển số 36C-002.44 (ảnh 6,7,8) với mặt bên phải và mặt trước khung cố định ốp nhựa mặt nạ, mặt bên phải, mặt trên và mặt trước các bộ phận sát bên phải cổ phoóc xe máy 50cc không đeo biển số (ảnh 22,23,24).

+ Tại thời điểm va chạm, xe ô tô biển số 36C - 002.44 chuyển động từ phải sang trái, chếch cùng chiều với hướng chuyển động của xe máy 50cc, không đeo biển số.

+ Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu đám vết cà xuống mặt đường (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, ngay khu vực giao nhau đường nối QL47, QL45 với đường đi vào mặt bằng 725, xã Đ.

+ Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện khi xảy ra va chạm.”.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, chất ma túy đối với Vi Bá T. Kết quả kiểm tra Vi Bá T không có nồng độ cồn, âm tính với chất ma túy.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44, quá trình điều tra xác định đây là xe của ông Lê Bá C, sinh năm 1975 ở khu phố H, thị trấn R, huyện Đ ( nay là Thành phố T), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi khám nghiệm phương tiện, làm rõ các dấu vết và các tình tiết liên quan đến vụ án, ngày 09/12/2024 Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, giấy tờ bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Bá C quản lý và sử dụng.

- Đối với chiếc xe máy 50cc không biển số, có số máy BVHL 139FMB VTE 704.079, quá trình điều tra xác định được đây là xe của gia đình ông Lê Trần H, sinh năm 1979 ở thôn B, xã Đ, huyện Đ (nay là Thành phố T), tỉnh Thanh Hóa (là bố của cháu Lê Trần Đức M1). Sau khi khám nghiệm phương tiện, làm rõ các dấu vết và các tình tiết liên quan đến vụ án, ngày 09/12/2024 Cơ

quan CSĐT đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, giấy tờ bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Trần H quản lý và sử dụng.

Đối với ông Lê Bá C, sinh năm 1975 ở khu phố H, thị trấn R, huyện Đ (nay là Thành phố T), tỉnh Thanh Hóa là chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44. Quá trình xác minh xác định: Kể từ khi mua xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44 vào ngày 10/10/2021, đến ngày xảy ra tai nạn giao thông 03/10/2024, ông C chưa làm thủ tục đăng ký sang tên xe, vi phạm vào quy định tại điểm 1 khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ. Ngày 19/12/2024, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông C.

Đối với ông Lê Trần H và bà Lê Thị H1thôn B, xã Đ, huyện Đ ( nay là Thành phố T), tỉnh Thanh Hóa (là bố, mẹ đẻ của bị hại Lê Trần Đức M1) vào ngày 03/10/2024 ông H và bà H1 đi làm không có nhà, việc cháu M1 tự ý đi xe máy 50cc sau đó xảy ra tai nạn giao thông thì ông H và bà H1 hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông H, bà H1.

Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông Vi Bá T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44 không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực, vi phạm vào quy định tại điểm d khoản 2 Điều 58 Luật giao thông đường bộ, đồng thời, vi phạm vào điểm b khoản 4 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ. Ngày 19/12/2024, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T.

Quá trình điều tra, Vi Bá T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Về dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bồi thường gồm các khoản như sau:

  • Tiền dịch vụ hỏa táng và chi phí kèm theo : 40.000.000đ;
  • Tiền thuê đào huyệt và vật liệu xây mộ và vật liệu xây mộ: 3.500.000₫ (Trong đó có tiền mua vật liệu xây mộ là 500.000₫).
  • Tiền xe chở nạn nhân về nhà: 2.000.000₫;
  • Tiền thuê xe đưa đón người nhà đi lại trong thời gian nằm viện và đưa về nạn nhân về nhà: 2.000.000đ;
  • Tiền mua tiểu sành ( Quan quách): 4.600.000đ;
  • Tiền thuốc bác sỹ cấp cứu thân nhân của nạn nhân: 4.650.000đ;
  • Tiền người thân nghỉ làm để làm tang lễ của 03 người ( bố, mẹ, anh trai):400.000đ/ người x 03 người x 03 ngày =3.600.000₫;
  • Tiền mua đồ phục tang lễ gồm hoa quả, bánh kẹo và đồ thực phẩm trong 09 hóa đơn là: 14.658.000₫ (trong đó có 2.135.000₫ là tiền mua thực phẩm, đồ ăn; Tiền mua đồ hương, hoa quả phục vụ tang lễ là 12.523.000₫);
  • Tiền xe máy bị hỏng: 10.500.000đ;
  • Tiền phí và thuê xe chở xe máy về nhà: 700.000đ;
  • Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 234.000.000đ;

Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 320.208.000đ. Ngày 23/12/2024, bị cáo Vi Bá T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ. Nay gia đình bị hại yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 300.208.000₫.

Quá trình điều tra, Vi Bá T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSTPTH ngày 15/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Vi Bá T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm a Khoản 1, 5 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Điều 584; 591; Điều 601 Bộ luật dân sự.

Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và NQ 326/2016/UBTVQH14.

Đề nghị HĐXX tuyên bố: Vi Bá T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Mức hình phạt Đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị cấm bị cáo điều khiển xe ô tô trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc chủ phương tiện phải bồi thường cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và chủ phương tiện phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Thống nhất với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Không đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về việc xác định người bị hại có một phần lỗi để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự vì trong vụ án này, bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tham gia giao thông, đi từ đường nhánh ra đường chính, nhưng không chú ý quan sát và không nhường

đường cho phương tiện đi trên đường chính dẫn đến tai nạn, hậu quả cháu M1 tử vong là lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức hình phạt đối với bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội:

Vào khoảng 16 giờ 55 phút ngày 03/10/2024, Vi Bá T (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44 đi từ đường nhánh thuộc mặt bằng 725 khu dân cư thôn V, xã Đ, huyện Đ ( nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa ra khu vực ngã ba giao nhau giữa đường nối Quốc lộ D - Quốc lộ D (đường chính), do Vi Bá T đi từ đường nhánh ra đường chính, không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường chính ( là vi phạm vào Khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 (Luật có hiệu lực tại thời điểm sảy ra tại nạn), nên đã va chạm với xe máy 50cc không biển số do Lê Trần Đức M1 điều khiển đang đi trên đường chính (theo hướng Quốc lộ D đi Quốc lộ D). Hậu quả cháu M1 bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đ cấp cứu, đến 17 giờ cùng ngày thì chết.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Vi Bá T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hiện nay tình hình trật tự an toàn giao thông có nhiều diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe mà nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu ý thức của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông. Trong vụ án này bị cáo có giấy phép lái xe hợp lệ, khi điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng lại thiếu quan sát, không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ, nên dẫn đến tai nạn. Hậu quả người bị hại chết.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và tuy bị cáo là lái xe thuê, có hoàn cảnh khó khăn và trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ phương tiện. Nhưng bị cáo đã cố gắng vay mượn để bồi thường cho gia đình bị hại 20.000.000đ. Tuy số tiền bị cáo tự nguyện chưa nhiều song đây cũng thể hiện sự có gắng và có trách nhiệm với gia đình bị hại. Do đó trong vụ án này cũng cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[ 5] Về hình phạt:

Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đề nghị cấm bị cáo điều khiển xe ô tô trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Nhưng Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Vi Bá T là người dân tộc; phạm tội do lỗi vô ý. Tai nạn sảy ra là điều không mong muốn đối với bị cáo. Mặt khác bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, làm nghề lái xe, nên cũng cần tạo điều kiện cho bị cáo sau khi ra tù có điều kiện lao động để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Do đó xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung về cấm bị cáo điều khiển xe ô tô trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù đối với bị cáo.

[ 6] Về trách nhiệm dân sự:

(1). Đối với yêu cầu về số tiền: Dịch vụ hỏa táng và chi phí kèm theo : 40.000.000đ; Tiền thuê đào huyệt: 3.000.000đ; Tiền mua tiểu sành (Quan quách): 4.600.000đ; T3 người thân nghỉ làm để làm tang lễ của 03 người ( bố, mẹ, anh trai): 400.000đ/ người x 03 người x 03 ngày =3.600.000đ; Tiền mua đồ hương, hoa quả phục vụ tang lễ là 12.523.000đ; Tiền xe máy bị hỏng: 10.500.000₫ đã có hóa đơn, tài liệu chứng minh nên chấp nhận.

(2). Tiền thuốc bác sỹ cấp cứu thân nhân của nạn nhân: 4.650.000đ, phía gia đình bị hại đã xuất trình được hóa đơn mua thuốc hỗ trợ điều trị người thân trong thời gian lo tang lễ là 3.035.000đ, số tiền thuốc còn lại gia đình tự mua về hỗ trợ bồi dưỡng sức khỏe, nên không có hóa đơn. Xét đây là số tiền chi phí phù hợp thực tế nên chấp nhận.

(3). Đối với Tiền xe chở nạn nhân về nhà: 2.000.000đ; T3 thuê xe đưa đón người nhà đi lại trong thời gian nằm viện và đưa về nạn nhân về nhà: 2.000.000đ; Tiền phí và thuê xe chở xe bị tai nạn về nhà: 700.000đ. Tuy phía bị

hại không xuất trình được hóa đơn chứng từ cho các khoản chi này, nhưng xét thấy đây là những khoản chi thực tế phải có, nên chấp nhận.

(4).Đối với tiền mua vật liệu xây mộ là 500.000đ và số tiền 2.135.000₫ là tiền mua thực phẩm, đồ ăn. Hội đồng xét xử không chấp nhận vì đây là khoản tiền chi phí cho xây mộ và ăn uống do gia đình lựa chọn thực hiện chứ không phải khoản chi phí bắt buộc cần thiết cho việc mai táng.

(5) Đối với tiền bồi thường tổn thất về tinh thần gia đình bị hại yêu cầu 234.000.000₫ (Tương đương với 100 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định). HĐXX xét thấy: Số tiền bồi thường tổn thất về tinh thần do gia đình bị hại yêu cầu là tối đa so với quy định của pháp luật, Nhưng trong vụ án này bị hại là người chưa thành niên, còn bố mẹ, anh trai và chưa có vợ, con. Do đó chỉ nên chấp nhận số tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tương ứng bằng 60 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định là : 2.340.000₫ x 60 = 140.400.000₫;

Như vậy tổng số tiền bị hại yêu cầu bồi thường được chấp nhận gồm:

Dịch vụ hỏa táng và chi phí kèm theo : 40.000.000đ; Tiền thuê đào huyệt: 3.000.000đ; Tiền mua tiểu sành ( Quan quách): 4.600.000đ; T3 người thân nghỉ làm để làm tang lễ của 03 người ( bố, mẹ, anh trai): 400.000đ/ người x 03 người x 03 ngày =3.600.000đ; Tiền mua đồ hương, hoa quả, bánh phục vụ tang lễ là 12.523.000đ; Tiền xe máy bị hỏng: 10.500.000đ; Tiền thuốc bác sỹ cấp cứu thân nhân của nạn nhân: 4.650.000₫; Tiền xe chở nạn nhân về nhà: 2.000.000đ; T3 thuê xe đưa đón người nhà đi lại trong thời gian nằm viện và đưa về nạn nhân về nhà: 2.000.000đ; Tiền phí và thuê xe chở xe bị tai nạn về nhà: 700.000đ; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần 140.400.000đ = 223.973.000đ.

Do ngày 23/12/2024, bị cáo Vi Bá T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ. Do đó số tiền bồi thường còn lại phải yêu cầu chủ phương tiện là anh Lê Bá C phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại là 203.973.000 ₫ là phù hợp với quy định tại 584; 585; 591; 601 của Bộ luật dân sự.

Chủ phương tiện có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại khoản tiền chủ phương tiện đã phải bồi thường cho gia đình bị hại khi có yêu cầu và có đủ tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 36C-002.44, anh Lê Bá C đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì về phần dân sự, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ. Anh Lê Bá C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền anh phải bồi thường là: 203.973.000₫ x 5% = 10.198.650 đ theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Đại diện của bị hại thuộc trường hợp được miễn tiền án phí đối với những khoản yêu cầu bồi thường không được chấp nhận theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Điều 584; 585; 591; 601 của Bộ luật dân sự.

Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đ d Khoản 1 Điều 12; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Vi Bá T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt:

Vi Bá T 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Tổng số tiền gia đình bị hại yêu cầu bồi thường được chấp nhận là 223.973.000₫ gồm các khoản sau:

Tiền dịch vụ hỏa táng và chi phí kèm theo: 40.000.000đ; Tiền thuê đào huyệt: 3.000.000đ; Tiền mua tiểu sành ( Quan quách): 4.600.000đ; T3 người thân nghỉ làm để làm tang lễ của 03 người ( bố, mẹ, anh trai): 400.000đ/ người x 03 người x 03 ngày = 3.600.000đ; Tiền mua đồ hương, hoa quả, bánh phục vụ tang lễ là 12.523.000đ; Tiền xe máy bị hỏng: 10.500.000đ; Tiền thuốc bác sỹ cấp cứu thân nhân của nạn nhân: 4.650.000đ; Tiền xe chở nạn nhân về nhà: 2.000.000đ; T3 thuê xe đưa đón người nhà đi lại trong thời gian nằm viện và đưa về nạn nhân về nhà: 2.000.000đ; Tiền phí và thuê xe chở xe bị tai nạn về nhà: 700.000đ; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần 140.400.000đ.

Do ngày 23/12/2024, bị cáo Vi Bá T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ. Số tiền còn lại chủ phương tiện là anh Lê Bá C phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại là 203.973.000₫.

Chủ phương tiện là anh Lê Bá C có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại khoản tiền chủ phương tiện đã phải bồi thường cho gia đình bị hại khi có yêu cầu và có đủ tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, anh Lê Bá C không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi suất đối với số tiền chậm trả, theo lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Anh Lê Bá C phải chịu 10.198.650 đ án phí dân sự sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại được miễn tiền án phí đối với những khoản yêu cầu bồi thường không được chấp nhận.

Bị cáo, anh Lê Bá C; người đại diện hợp pháp của bị hại quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi

hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Lê Bá C có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Đại diện bị hại
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị H2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 154/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Ba TH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger