|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2024
V/v: “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mộng Tuyền
- Các Hội thẩm nhân dân:Bà Võ Thị Hiền.
- Ông Nguyễn Hồng Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 425/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1997;
- ĐKTT: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre;
- - Bị đơn: Anh Võ Thành L1, sinh năm 1997;
- Địa chỉ: khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Nguyên đơn chị L và bị đơn anh L1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:
Chị và anh Võ Thành L1 cưới nhau vào năm 2018 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 22/10/2018. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 10/2019 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắn được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2019 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Thành L1.
Về con chung: Chị và anh L1 chung sống với nhau có 01 con chung là Võ Thành Đ, sinh ngày 15/10/2018, hiện con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, xin nuôi con chung, chị không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Đối với bị đơn anh Võ Thành L1, Tòa án có tống đạt các thông báo cho anh L1 tham gia hòa giải, giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh L1 xin vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy L đối với anh Võ Thành L1. Về con chung: có 01 con chung là Võ Thành Đ, sinh ngày 15/10/2018, hiện nay sống với chị L. Khi ly hôn, chị L xin nuôi con, chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị để con chung cho chị L nuôi dưỡng, ghi nhận chị L tự nguyện không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Võ Thành L1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 22/10/2018. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẩn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắn được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2019 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị L nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh L1. Trong quá trình tố tụng anh L1 không đến gặp mặt chị L để hòa giải với chị L tại tòa mà còn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị L và anh L1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: chị L và anh L1 chung sống với nhau có 01 con chung là Võ Thành Đ, sinh ngày 15/10/2018, hiện nay đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L xin nuôi con, chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung, xét yêu cầu của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được HĐXX chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nguyên đơn chị L phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 27, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Luật tố tụng Dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85, 86 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy L đối với anh Võ Thành L1.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy L được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Võ Thành Đ, sinh ngày 15/10/2018. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh Võ Thành L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh L1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004733 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Chị L đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Mộng Tuyền |
Bản án số 154/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 154/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
