Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS - ST

Ngày 11 - 12 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc H.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Phạm Văn C.
    2. Bà Nguyễn Thị Công M.
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc T - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:161/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: ĐẶNG TUẤN Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại Q, H, Hà Nội; Trú quán: Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Đặng Xuân P, sinh năm: 1962; Mẹ đẻ: Dương Thị D, sinh năm: 1973; Vợ: Trần Thị T1, sinh năm: 1995 (Đã ly hôn). Con: Có 01 (một) con, sinh năm: 2019.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ-XPHC ngày 08/03/2014 của Công an huyện L đã xử phạt Đặng Tuấn Đ số tiền 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Tính đến ngày phạm tội, Đ chưa chấp hành xong.
  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 79/QĐ-XPHC ngày 06/01/2015 của Công an huyện L đã xử phạt Đặng Tuấn Đ số tiền 750.000 đồng về hành vi “Mua dâm”. Tính đến ngày phạm tội, Đ chưa chấp hành xong.
  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XLHC ngày 14/12/2015 của Công an huyện L đã xử phạt Đặng Tuấn Đ số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tính đến ngày phạm tội, Đ chưa chấp hành xong.
  • + Tại Quyết định xử phạt hành chính số 57/QĐ-XPHC ngày 08/03/2021 của Công an huyện L đã xử phạt Đặng Tuấn Đ số tiền 200.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Tính đến ngày phạm tội, Đ đã chấp hành xong.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

2. Họ tên: NGUYỄN VĂN T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1980, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 05/12; Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn B, sinh năm: 1957; Mẹ đẻ: Bùi Thị O, sinh năm: 1960; Vợ: Vi Thị Q, sinh năm: 1979; Con: Có 02 con, lớn sinh năm: 2004, nhỏ sinh năm: 2010;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

3. Họ tên: NGUYỄN VĂN A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn Q1, sinh năm: 1958; Mẹ đẻ: Vi Thị Đ1, sinh năm: (Đã chết năm 2004); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Tăng Thị M1, sinh năm 1975. Vắng mặt. Trú tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Tăng Thị V, sinh năm 1992. Vắng mặt. Trú tại: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Đặng Minh H1, sinh năm 2006. Có mặt. Trú tại: T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Người chứng kiến:

  • - Trịnh Xuân Đ2, sinh năm 1962. Có mặt. Trú tại: TDP M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Chu Văn T3, sinh năm 1975. Vắng mặt. Trú tại: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Nguyễn Văn C1, sinh năm 1975. Vắng mặt. Trú tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 09/8/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang tuần tra kiểm soát tại khu vực Trung tâm y tế huyện L đến tầng 7 khoa Gây mê hồi sức phát hiện đối tượng Đặng Tuấn Đ, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra bắt quả tang Đặng Tuấn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroin). Tang vật thu giữ gồm:

  • - Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của Đặng Tuấn Đ đang mặc có 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa bên trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ được quấn băng dính màu vàng, bên trong túi nilon có: 01 gói nilon màu đen, được quấn túi nilon màu hồng, bên trong lớp nilon màu hồng là một gói giấy dòng kẻ ngang màu trắng bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký kiệu “QT”.
  • - 01 điện thoại iPhone 6S, màu trắng, số IMEL: 353310076264346, bên trong lắp sim số 0964 601 278 máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong trong phong bì ký kiệu “ĐT ĐỨC”.
  • - Số tiền 1.295.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT TIỀN”.

Tiến hành xét nghiệm ma túy bằng hình thức test nhanh nước tiểu đối với Đặng Tuấn Đ, kết quả Đ dương tính ma túy heroin, đồng thời khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 1778/KL-KTHS ngày 13/8/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận trong 01 phong bì ký hiệu “QT”: là ma túy, loại ma túy heroine (Heroin), khối lượng 0,847 gam.

Về nguồn gốc số ma túy đã bị thu giữ khi bắt quả tang, Đ khai: Khoảng 11 giờ ngày 09/8/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vision, biển kiểm soát 98AB-087.77 lên nhà Nguyễn Văn T2, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã H, huyện L nhờ T2 đi mua hộ 1.000.000 đồng tiền ma túy heroin. Cơ quan điều tra cho Đặng Tuấn Đ nhận dạng qua bản ảnh, kết quả Đ xác định đúng Nguyễn Văn T2 là người đã mua ma túy cho vào ngày 09/8/2024 với số tiền 1.000.000 đồng.

Căn cứ lời khai của Đ, ngày 09/8/2024 Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T2, tại thôn T, xã H, huyện L. Kết quả thu giữ: 01 bật lửa gas cũ màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng bị vo viên được niêm phong vào phong bì ký hiệu “KX1”; 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” không còn giấy bạc. Ngày 10/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1270/QĐ-ĐCSKTMT giám định 01 phong bì có ký hiệu “KX1”. Tại kết luận giám định số 1777/KL-KTHS ngày 13/8/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: không tìm thấy chất ma túy bám dính.

Thời điểm thi hành lệnh khám xét tại nơi ở của Nguyễn Văn T2, ngoài T2 ra còn có Nguyễn Văn A, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã H, huyện L và Hoàng Văn Đ3, sinh năm 1982, trú tại thôn H, xã P, huyện L. Tiến hành test nhanh nước tiểu của T2, Văn A, Hoàng Văn Đ3 cho kết quả dương tính với ma tuý heroin. (BL: 251, 258-259, 258-259, 320, 488). Ngày 10/8/2024, Nguyễn Văn A đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của Nguyễn Văn T2 tại thôn T, xã H, huyện L vào ngày 09/8/2024. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn A, tại thôn T, xã H, huyện L, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Đồng thời, tiến hành cho T2 và Văn A thực hiện lại hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình xác định hiện trường lập biên bản, bản ảnh và sơ đồ, diễn biến hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/8/2024, Văn A gọi điện hỏi T2 có ở nhà không thì sang chơi, T2 trả lời “Có”. Văn A đi bộ sang nhà T2, khi đi mang theo 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, 01 bật lửa gas màu đỏ và 01 gói giấy trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy chứa ma túy heroin, gói giấy được để ở vỏ nilon của bao thuốc lá T6. Khi đến nhà T2, Văn A ngồi uống nước cùng T2 một lúc rồi đi vào trong phòng ngủ của T2 ngồi xuống nền nhà bỏ bao thuốc lá Thăng L cùng gói giấy có chứa ma túy heroin và bật lửa xuống nền nhà, Văn A xé mảnh giấy bạc ở vỏ bao thuốc lá ra và sử dụng bật lửa đốt mặt giấy bạc, sau đó Văn A đổ ma túy ở gói giấy do Văn A mang đến vào mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa tự đốt giấy bạc để hít ma túy, Văn A hít ma túy xong thì cầm giấy bạc có chứa ma túy và dùng bật lửa đốt giấy bạc để cho T2 sử dụng bằng hình thức hít, T2 hít ma túy xong thì mảnh giấy bạc bị rách, Văn A để bật lửa và mảnh giấy bạc có chứa ma túy xuống nền nhà, T2 xé mảnh giấy bạc từ bao thuốc lá T6 do Văn A mang đến rồi dùng bật lửa đốt mặt giấy bạc, sau đó T2 đổ hết số ma túy ở mảnh giấy bạc bị rách sang mảnh giấy bạc do T2 làm rồi tự dùng bật lửa châm để sử dụng ma túy, sau khi T2 sử dụng ma túy xong thì để mảnh giấy bạc có chứa ma túy và bật lửa xuống nền nhà, Văn A tự cầm giấy bạc và bật lửa lên để sử dụng hết số ma túy còn lại.

Về nguồn gốc số ma túy mà T2 đã mua hộ cho Đặng Tuấn Đ, T2 khai: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/8/2024, Đ đi xe mô tô lên nhà T2 và bảo với T2 “Anh đi lấy hộ em một triệu” (nghĩa là mua hộ một triệu đồng tiền ma túy heroin), sau đó T2 đi ra sân gọi điện thoại đến số điện thoại được lưu trong danh bạ điện thoại của T2 là “Chú Minh Đ4” (số thuê bao 0385.256.801 - Thức khai là của Tăng Thị M1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã H, huyện L). M1 nghe máy, T2 bảo “Cho anh lấy một triệu”, chị M1 trả lời “ra vườn nhãn”, sau đó T2 đi vào nhà, Đ đưa cho T2 05 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng và chìa khóa xe mô tô của Đ, T2 điều khiển xe mô tô của Đ đến vườn nhãn cách nhà Tăng Thị M1 khoảng 50 mét, M1 đang đứng trong vườn nhãn, T2 đi bộ vào vườn nhãn rồi đưa cho M1 05 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng, M1 đưa lại cho T2 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong có chứa ma túy heroin, T2 cầm gói ma túy đi về nhà rồi đưa cho Đ.

Căn cứ lời khai của T2, ngày 09/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khẩn cấp nơi ở của Tăng Thị M1 tại thôn T, xã H, huyện L, kết quả khám xét thu giữ tại túi quần bên phải của M1 số tiền 1.390.000 đồng; Thu giữ tại túi áo khoác bên phải của M1 số tiền 40.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh, cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen; 03 thẻ nhớ được lắp trong camera ở tại nhà của M1.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Văn T2 nhận dạng qua bản ảnh đối với Tăng Thị M1, kết quả T2 xác định đúng M1 là người đã bán ma túy cho T2. Đồng thời, tiến hành cho Nguyễn Văn T2 xác định vị trí mua ma túy của M1, quá trình xác định hiện trường lập biên bản, bản ảnh và sơ đồ.

Quá trình đấu tranh, M1 không thừa nhận đã bán ma túy cho T2. Ngày 10/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành rà soát Camera trong bán kính 200m quanh khu vực vườn nhãn cách nhà ở của M1 kết quả không phát hiện Camera nào. Ngày 19/09/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 1473/QĐ-ĐCSKTMT giám định ADN đối với đồ vật được sử dụng để đựng ma tuý thu giữ trong quá trình bắt quả tang Đ được niêm phong trong phong bì ký kiệu “QT” để so sánh với mẫu tóc thu giữ của Tăng Thị M1. Tại Kết luận số 7266/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của V1 Bộ C2 kết luận: trong mẫu gửi giám định không phải là ADN của Tăng Thị M1, không đủ cơ sở để xác định có ADN của Tăng Thị M1 hay không.

Ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Lệnh thu giữ điện tín số 655 đối với số thuê bao 0349369848 (tạm giữ của Nguyễn Văn T2) và số thuê bao 0385256801 (tạm giữ của Tăng Thị M1). Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận được báo cáo chi tiết:

  • - Tên đăng ký số thuê bao 0349369848 là Nguyễn T4, sinh năm 16/01/1972, địa chỉ: 1 L, A, Huế, Thừa Thiên H2. Nguyễn Văn T2 khai số thuê bao trên trước đây T2 mua ở cửa hàng điện thoại ở khu vực xã H, huyện L từ khoảng năm 2021 và sử dụng đến khi bị bắt, T2 mua sim rác nên không biết ai là người đứng tên chủ thuê bao, cũng không có quan hệ gì với người đứng tên chủ thuê bao.
  • - Tên đăng ký số thuê bao 0385256801 là Nguyễn Mạnh T5, sinh năm 02/7/1970, địa chỉ: E Tổ A, T, H, Hà Nội, Tăng Thị M1 khai nhận số thuê bao 0385256801 được M1 mua lại sim rác vào khoảng tháng 04/2024 (M1 không nhớ đã mua số thuê bao trên ở đâu) và sử dụng đến khi cơ quan Công an tạm giữ để điều tra.

Ngày 16/10/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã cho T2 và M1 đối chất với nhau nhưng không có kết quả, các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Do đó, không có căn cứ xác định M1 đã bán ma túy cho T2.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản cáo trạng số: 158/ CT - VKS ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với bị cáo Đặng Tuấn Đức về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Tuấn Đ;
  2. Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.

  3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2;
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm từ.Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.

  5. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn A;
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024.

  7. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  8. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “QT” do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “KX1” do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì dán kín được niêm phong hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C2 số 7266/KL-KTHS; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) vỏ T6 (không có vỏ giấy bạc);

    Trả lại bị cáo Đặng Tuấn Đ 01 diện thoại trong 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “ĐT ĐỨC”; bị cáo Nguyễn Văn A 01 điện thoại trong 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “Điện thoại VA”; bị cáo Nguyễn Văn T2 01 điện thoại trong 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “ĐT Thức”;

    Trả lại bị cáo Đặng Tuấn Đ số tiền 1.295.000đồng theo biên lai thu số 0002461 ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Lục Ngạn.

    Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  9. Án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  10. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa lời khai nhận của các bị cáo, lời trình bày của người liên quan, người chứng kiến phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người liên quan, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ và nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/8/2024, tại tầng 7 Trung tâm y tế huyện L, Đặng Tuấn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,847 gam (Không phẩy tám trăm bốn mươi bẩy gam) ma túy heroin với mục đích để sử dụng. Nguồn gốc ma túy là do Đ nhờ Nguyễn Văn T2 mua hộ vào khoảng 11 giờ ngày 09/8/2024. Cùng ngày 09/8/2024, T2 biết việc Nguyễn Văn A mang ma túy heroin và dụng cụ để sử dụng ma túy đến nơi ở của T2 để sử dụng trái phép chất ma túy, T2 không ngăn cản mà còn trực tiếp sử dụng ma túy heroin cùng với Văn A, quá trình sử dụng ma túy T2 còn có hành vi chuẩn bị giấy bạc, đổ ma túy ra cho Văn A sử dụng ma túy. Văn A đã có hành vi mang ma túy và công cụ sử dụng trái phép chất ma túy đến cho T2 sử dụng ma túy.

Vì vậy bản cáo trạng số 158/ CT - VKS ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với bị cáo Đặng Tuấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm sói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm giáo dục riêng cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung.

[5] Xét về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về vai trò: Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, phối hợp chặt chẽ cụ thể:

Bị cáo Đặng Tuấn Đ là người nhờ Nguyễn Văn T2 tìm mua ma tuý heroin hộ mang về sử dụng để thoả mãn nhu cầu của bản thân, không nhằm mục đích khác.

Bị cáo Nguyễn Văn T2 biết việc Nguyễn Văn A mang ma túy heroin và dụng cụ để sử dụng ma túy đến nơi ở của T2 để sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng T2 không ngăn cản mà còn trực tiếp sử dụng ma túy heroin cùng với Văn A, quá trình sử dụng ma túy T2 còn có hành vi chuẩn bị giấy bạc, đổ ma túy ra cho Văn A sử dụng ma túy. Bị cáo biết việc Đặng Tuấn Đ nhờ mua hộ ma túy heroin để sử dụng là vi phạm nhưng vẫn mua hộ Đ để sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Văn A có hành vi mang ma túy và công cụ sử dụng trái phép chất ma túy đến cho T2 cùng sử dụng ma túy, cầm giấy bạc và châm lửa đốt giấy bạc để cho Nguyễn Văn T2 hít ma túy.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Đặng Tuấn Đ là người có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về các tội “Đánh bạc”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn A là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên bị cáo đợc hởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Các bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Do vậy căn cứ vào vai trò, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cao hơn mức khởi điểm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 do bị cáo phạm hai tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu xanh đen, biển số 98AB-087.77 có nguồn gốc là của Đặng Minh H1 (là em ruột của Đặng Tuấn Đ), quá trình điều tra xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu của anh Đặng Minh H1, khi Đ tự ý lấy xe đi H1 không biết Đ sử dụng vào mục đích điều khiển đến nhà T2 nhờ T2 mua ma túy cho, ngày 20/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 1693/QĐ-ĐCSKTMT trả lại chiếc xe mô tô trên cho H1.

Đối với Tăng Thị M1, do ngoài lời khai của T2 ra thì không chứng cứ nào khác để chứng minh T2 mua ma túy từ M1, nên không có căn cứ để xử lý đối với M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định số 1741/QĐ-ĐCSKTMT trả lại M1 gồm: Số tiền 41.390.000 đồng; 01 thẻ nhớ có chữ IMOU 64GB; 01 thẻ nhớ có chữ HIKVISION 64GB; 01 thẻ nhớ có chữ EZVIZ 64GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, cũ đã tạm giữ của Tăng Thị M1 trong quá trình thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Ngày 20/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại Đặng Minh H1 nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu xanh đen, biển số 98AB-087.77. Ngày 29/10/2024, ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho Tăng Thị M1 số tiền 41.390.000 đồng; 01 thẻ nhớ có chữ IMOU 64GB; 01 thẻ nhớ có chữ HIKVISION 64GB; 01 thẻ nhớ có chữ EZViZ 64GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen, số IMEI: 356567085607099; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, cũ đã qua sử dụng. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Số vật chứng còn lại căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xử lý như sau:

Đối với 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “QT” do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “KX1” do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì dán kín được niêm phong hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C2 số 7266/KL-KTHS là chất cấm lưu hành; và 01 (một) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) vỏ T6 (không có vỏ giấy bạc) là vật ít giá trị. Nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “ĐT ĐỨC”; 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “Điện thoại VA"; 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “ĐT Thức” là điện thoại của các bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 1.295.000đồng của Đặng Tuấn Đ theo biên lai thu số 0002461 ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Lục Ngạn không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Tuấn Đ;
  • Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn Đ 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/8/2024.

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và 03 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 04 năm 06 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/8/2024.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn A;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 03 (ba) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/8/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “QT” do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “KX1” do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì dán kín được niêm phong hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C2 số 7266/KL-KTHS; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) vỏ T6 (không có vỏ giấy bạc);

Trả lại bị cáo Đặng Tuấn Đ 01 diện thoại trong 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “ĐT ĐỨC”; trả lại bị cáo Nguyễn Văn A 01 điện thoại trong 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “Điện thoại VA”; trả lại bị cáo Nguyễn Văn T2 01 điện thoại trong 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu “ĐT Thức” theo biên bản mở niêm phong, niêm phong tài sản và biên bản giao vật chứng ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Lục Ngạn.

Trả lại bị cáo Đặng Tuấn Đ số tiền 1.295.000đồng theo biên lai thu số 0002461 ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Lục Ngạn.

Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đặng Tuấn Đ, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm Công an T. Bắc Giang;
  • - Công thông tin điện tử TA;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS - ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 154/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Tuấn Đ và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger