Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-12-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Thanh Trần

Bà Trịnh Ngọc Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1984 (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03-10-2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày:

Vào năm 2006 được sự đồng ý của hai bên gia đình ông và bà Nguyễn Thị L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 20/02/2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc có 02 người con nhưng thời gian chung sống giữa vợ chồng có xảy ra cự cãi thì bà L giận dỗi bỏ nhà đi gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn cho vợ chồng ông và bà L hứa thay đổi nhưng vẫn tiếp tục bỏ nhà đi, không chăm lo cho gia đình nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, hiện ông và bà L đã ly thân không còn sống chung. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà L, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.

- Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2007 và Nguyễn Chí C, sinh ngày 09/12/2016. Hiện nay, Nguyễn Trọng N đang sống với ông và Nguyễn Chí C đang sống với bà L. Sau khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi Nguyễn Trọng N, đồng ý giao Nguyễn Chí C cho bà L nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người con chung tên Nguyên Trọng N trình bày: Trường hợp ông S và bà L ly hôn thì có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với ông Nguyễn Thanh S.

Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị L đúng theo quy định pháp luật nhưng bà L không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị L tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Ông S yêu cầu được ly hôn với bà L do mâu thuẫn vợ chồng gay gắt, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, hiện nay ông và bà L đã ly thân không còn sống chung. Bà L cũng không có động thái để hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của ông S. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa ông S và bà L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông S về việc xin ly hôn với bà L.

[3]. Về con chung: Đối với 02 người con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2007 và Nguyễn Chí C, sinh ngày 09/12/2016. Hiện Nguyễn Trọng N đang sống chung với ông S và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với ông S, Nguyễn Chí C đang sống chung với bà L. Sau khi ly hôn ông S yêu cầu được tiếp tục nuôi Nguyễn Trọng N và đồng ý giao Nguyễn Chí C cho bà L nuôi dưỡng, bà L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của ông S. Do đó để đảm bảo điều kiện sống bình thường và ổn định của người con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Trọng N cho ông Nguyễn Thanh S và người con chung tên Nguyễn Chí C cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng nên yêu cầu của ông S là có căn cứ được chấp nhận. Ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L không trực tiếp nuôi con có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thanh S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh S phải chị án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh S xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L. Ông S được ly hôn với bà L.
  2. Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2007 cho ông Nguyễn Thanh S tiếp tục trông nom, chăm sóc giáo dục và người con chung tên Nguyễn Chí C, sinh ngày 09/12/2016 cho bà Nguyễn Thị L tiếp tục trông nom, chăm sóc giáo dục. Ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Ông S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006706 ngày 03/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ông S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện U Minh;
  • - Chi cục THADS huyện U Minh;
  • - UBND xã Khánh Hoà, huyện U Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Lụa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 154/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn: Sen - Liền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger