|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số:154/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Lẫy
Bà Hoàng Thị Chính
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1975 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ E phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C và bà Lê Thị H; chưa vợ con; Tiền sự: Không; tiền án: Có 03 tiền án chưa xoá án tích:
Bản án hình sự sơ thẩm số 04/HSST ngày 17/01/1995 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 26/02/1997 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân.
Bản án hình sự sơ thẩm số 178/HSST ngày 14/5/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 năm tù về tội Cướp tài sản công dân, 05 tù về tội hiếp dâm. Tổng hợp với hình phạt của Bản án số 01/HSST ngày 26/02/1997 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, buộc chấp hành hình phạt chung là 20 năm tù.
Bản án hình sự phúc thẩm số 1674/HSPT ngày 25/8/1998 Tòa phúc thẩm tại Hà Nội, Tòa án nhân dân Tối cao giữ nguyên các quyết định tại Bản án sơ thẩm số 178/HSST ngày 14/5/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/8/2024, chuyển tạm giam ngày 15/8/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 10 giờ 50 phút ngày 09/8/2024, Lê Văn T đi xe buýt đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy màu trắng (kích thước 1,5 x 2,5cm) chứa ma túy với giá 200.000 đồng, T cất giấu gói ma túy trên vào trong túi áo khoác bên trái phía trước. Sau đó, T tiếp tục đi xe buýt về đến khu vực ngã 6 Quán T thì xuống xe đi bộ. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực trước số H đường T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an quận K phát hiện kiểm tra, thu gữ vật chứng là số ma túy trên và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T tại tổ E phường T, quận K, Hải Phòng. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 963/KL-KTHS(MT) ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,17 gam, loại: Heroine”.
Xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Văn T, kết quả: “dương tính với chất ma túy M, H1".
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung trên. Mục đích T cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số tiền T mua ma túy là do lao động mà có. Thịnh không nhận dạng được người đàn ông bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 160/CT-VKSKA ngày 14 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:
Bị cáo Lê Văn T: 05 năm 06 tháng – 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 50 phỳt ngày 09/8/2024, tại khu vực trước số H đường T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phũng, bị cỏo Lờ Văn T đó thực hiện hành vi cất giữ trỏi phộp 0,17 gam ma tỳy loại Heroine với mục đích để sử dụng cỏ nhõn thỡ bị phỏt hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Bị cỏo Lờ Văn T nhõn thõn cú 03 tiền ỏn chưa xoỏ ỏn tớch:
Bản án hình sự sơ thẩm số 04/HSST ngày 17/01/1995 của Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/7/1995. Thi hành xong án phí vào ngày 08/8/2008. Chưa thi hành khoản bồi thường 01 chỉ vàng 99 và 180.000 đồng cho bị hại.
Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 26/02/1997 của Tòa án nhân dân huyện An Lão xử phạt Lê Văn T 36 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự. Đối với án phí hình sự 50.000₫ Chi cục thi hành án huyện An Lão đã uỷ thác cho Chi cục Thi hành án quận Kiến An. Theo công văn số 88/PTL-CCTHADS ngày 02/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An không nhận được bản án theo Quyết định uỷ thác của Chi cục Thi hành án huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Tại phiên toà bị cáo trình bày chưa thi hành phần án phí của bản án này, xác minh gia đình bị cáo cũng chưa nộp thay cho bị cáo bất kỳ khoản tiền nào nên tiền án này bị cáo chưa xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 178/HSST ngày 14/5/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 năm tù về tội Cướp tài sản công dân, 05 tù về tội hiếp dâm. Tổng hợp hình phạt với bản án số 01 ngày 26/02/1997 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, buộc Lê Văn T chấp hành hình phạt chung là 20 năm tù. T phải liên đới bồi thường
số tiền 1.560.000 đồng, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 60.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm số 1674/HSPT ngày 25/8/1998 Tòa phúc thẩm tại Hà Nội, Tòa án nhân dân Tối cao tuyên án giữ nguyên các quyết định tại bản án sơ thẩm số 178/HSST ngày 14/5/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2014. Thi hành xong 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/8/2007, thi hành xong 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm và 60.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ngày 10/6/2002. Đối với phần bồi thường dân sự, Chi cục thi hành án dân sự quận Kiến An không nhận được Ủy thác nên không thụ lý giải quyết, tại phiên toà bị cáo xác nhận chưa bồi thường cho bị hại khoản tiền này, gia đình bị cáo cũng xác định chưa bồi thường thay cho bị cáo số tiền này nên xác định tiền án này của bị cáo chưa xóa án tích.
Bị cáo T có 03 tiền án chưa xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nờn lần phạm tội này của bị cỏo được xỏc định là “tỏi phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hỡnh sự như Viện kiểm sỏt truy tố là cú căn cứ và đỳng phỏp luật.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[7] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[9] Đối với ma tuý sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về các nội dung khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Lê Văn T: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín niêm phong số 963MT/PC09 của Phòng P.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Văn Lẫy |
Phạm Thị Ngọc Ngà |
|
Hoàng Thị Chính |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
