|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 154/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Minh
Bà Nguyễn Minh Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST- HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình T, sinh ngày 31 tháng 08 năm 2007 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Tổ B, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số E T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình L và bà Nguyễn Thị X; tiền án: Tại Bản án số 58 ngày 26/7/2024 Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Do thời điểm phạm tội, Nguyễn Đình T chưa đủ 18 tuổi, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự được coi là không có án tích; tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang thi hành án tại Trại tạm giam – Công an tỉnh H, đến ngày 19/11/2024 chuyển đến trại tạm giam – Công an thành phố H. Có mặt.
- Giám hộ cho bị cáo : Bà Nguyễn Thị X (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1984; ĐKHKTT: Tổ B, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số E T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Duy K, sinh năm 1985 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Anh Cao Quốc T1, sinh năm 2000 ; ĐKHKTT: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ; nơi ở : Số A V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1982 ; địa chỉ : 1 Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Người làm chứng :
Nguyễn Tuấn A. Có mặt.
Nguyễn M. Có mặt.
Phạm Đức V. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn A thường xuyên đi qua khu vực nhà số A V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng nên thấy tại ngôi nhà này có để nhiều xe máy ở tầng 1 và không có người quản lý. Khoảng 2 giờ 15 phút ngày 3 tháng 4 năm 2024, tại quán V2 ở Lô A M, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng, Nguyễn Tuấn A rủ Nguyễn Đình T và Nguyễn M đến nhà số A đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng để trộm cắp tài sản. Khoảng 2 giờ 50 phút cùng ngày, Tuấn A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen (không xác định BKS), T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, BKS: 15B2-403.59 chở M ngồi phía sau đến khu vực đầu ngõ B đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng. Lúc này, Tuấn A bảo M đứng cảnh giới ở đầu ngõ B V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng còn Tuấn A điều khiển xe máy Honda Vision chở T vào nhà số A đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng. Khi đến gần đến nơi, T đứng ngoài cảnh giới còn Tuấn A đi vào thì thấy cửa nhà không khóa, tại khu vực để xe tầng 1 có dựng chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 18B2-376.02 là tài sản của anh Cao Quốc T1, không có ai trông coi. Tuấn A định dắt chiếc xe máy nhưng không được vì xe đang bị khóa cổ. Tuấn A quay lại bảo T1: “Xe khóa cổ, thôi tao không lấy đâu, mày với M vào lấy đi”. Tuấn A dẫn T1 vào, chỉ vị trí chỗ chiếc xe máy Honda Wave rồi chở T1 quay lại chỗ M và bỏ đi. Sau khi trao đổi, M điều khiển xe máy Honda Vision chở T1 quay lại để tiếp tục lấy trộm chiếc xe máy. Khi gần đến nơi, T1 đi bộ vào để lấy trộm xe và bảo Minh Đ về quán N1 ở đường L, quận N, TP Hải Phòng đón Phạm Đức V đến giúp sức. Khi gặp V tại quán nét, M nói là vừa “dắt” được con xe máy và nhờ V ra phá khóa. Vượng hiểu là trộm được chiếc xe máy và nhờ V hỗ trợ phá khóa nên đã đồng ý. Sau đó, V và M quay lại thì thấy T1 đang kéo lê chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 18B2-37602 từ trong ngôi nhà trên đi ra nên đã chạy đến hỗ trợ kéo đến khu vực đầu ngách A đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng. Tại đây, cả ba dùng sức bẻ, phá khóa cổ xe, V điều khiển xe máy Honda Vision chở M ngồi sau đẩy chiếc xe máy vừa trộm được do T1 điều khiển đi ra đường B thì gặp Nguyễn Tuấn A điều khiển xe máy Honda AirBlade đỏ đen (không rõ BKS) chở Nguyễn Trọng P - sinh năm: 2007, trú tại: Chung cư H, phường Đ, quận N, TP Hải Phòng ngồi sau. Tất cả đi đến khu vực bến xe V thuộc phường V, quận L, TP Hải Phòng thì V bảo: “Đứng ở đây cho vắng, tháo mặt nạ rồi đấu dây”. Tuấn A bật đèn pha xe máy đang điều khiển soi, M lấy tô vít ở trong cốp xe máy Honda Vision đưa V tháo mặt nạ xe máy vừa trộm cắp được để đấu dây điện khởi động xe. Sau đó T1 điều khiển chiếc xe này cùng cả nhóm đi được một đoạn thì dừng lại lấy giấy quảng cáo ở cột điện dán đè lên BKS của xe. Trong quá trình di chuyển, T1, M, Tuấn A và V thống nhất để chiếc xe trên cho T1 sử dụng làm phương tiện đi lại do T1 không có xe máy. Cả nhóm tiếp tục di chuyển qua nhiều tuyến đường thuộc Thành phố Hải Phòng. Khi đi đến khu vực đường B thuộc phường N, quận H, TP Hải Phòng thì Tuấn A, M, V và T1 cùng nhau bóc tem chiếc xe máy vừa trộm cắp được. Sau đó, T1 gửi xe máy Honda Wave trộm được ở khu vực sau bến xe V thuộc phường V, quận L, TP Hải Phòng. Buổi tối cùng ngày, T1 đem xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 18B2-376.02 đến khu vực đường B sơn đen lại phần vỏ ngoài của xe máy nhằm mục đích che giấu, tránh sự truy tìm của cơ quan chức năng và chủ xe. Quá trình di chuyển, chiếc xe máy bị rơi BKS: 18B2-376.02, không xác định được rơi ở đâu.
Ngày 5 tháng 4 năm 2024, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Đình T và Nguyễn M, Nguyễn Đức V1 đã đến Công an phường Đ tự thú và giao nộp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, không đeo BKS và khai đây là chiếc xe máy đã trộm cắp được tại nhà 10/5/17/254 đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng ngày 3 tháng 4 năm 2024; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda vison màu xanh BKS 15B2-40359 là phương tiện sử dụng khi đi trộm cắp tài sản.
Tại bản kết luận giám định số 1567/KL-KTHS ngày 24/05/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, không mang biển kiểm soát, có số khung: RLHJA3910KY171172 và số máy: JA39E1028862 là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự.
Kết quả xác minh xác định: chủ xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen bạc, số khung: RLHJA3910KY171172 và số máy: JA39E1028862 có BKS: 18B2-376.02 đăng ký lần đầu ngày 29/05/2019 do anh Cao Quang S, ĐKHKTT: xã N, huyện N, tỉnh Nam Định đứng tên là chủ sở hữu xe. Anh S đã giao chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 18B2-376.02 cho anh Cao Quốc T1 (con trai anh S) toàn quyền quản lý và sử dụng chiếc xe này.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25 ngày 31/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: Tổng giá trị của tài sản cần định giá, tại thời điểm tháng 04/2024 là: 11.971.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Ngày 27/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã ra Quyết định truy tìm đối với Biển kiểm soát 18B2-376.02 của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc bị trộm cắp tại tầng 1 nhà số A V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng ngày 3/4/2024. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có kết quả.
Ngày 5 tháng 4 năm 2024, các đối tượng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Đình T và Nguyễn M đã giao nộp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, BKS: 15B2-403.59 và khai đây là chiếc xe máy sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà 10/5/17/254 đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng ngày 3/4/2024.
Tại bản kết luận giám định số 1567/KL-KTHS ngày 24/05/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA VISION, mang BKS: 15B2-403.59, có số khung: RLHJF5809EY583620 và số máy: JF58E0469375 là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự.
Kết quả xác minh xác định: Xe máy nhãn hiệu HONDA VISION, màu xanh, BKS: 15B2-403.59, có số khung: RLHJF5809EY583620 và số máy: JF58E0469375 đăng ký lần đầu ngày 22/07/2016 do chị Đỗ Thị H, ĐKHKTT: Tổ 6 phường L, quận K, TP Hải Phòng đứng tên là chủ sở hữu xe.
Chị Đỗ Thị H cung cấp: ngày 2 tháng 4 năm 2024, trong khi chị H đi làm thì Nguyễn M (là con trai chị H) đã tự ý lấy xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu xanh, BKS: 15B2-403.59 đi khỏi nhà. Chị H không biết việc Nguyễn M sử dụng chiếc xe máy trên để đi trộm cắp tài sản.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade (không xác định BKS), Nguyễn Tuấn A khai: Ngày 3 tháng 4 năm 2024, Tuấn A mượn chiếc xe máy này của người nam giới tên N khoảng 20 tuổi (không biết nhân thân lai lịch, quen biết do chơi tại quán N1) để đi ăn đêm. Sau đó, Tuấn A đã mang xe trả lại xe cho N. Từ đó đến nay Tuấn A không gặp lại người này. Các đối tượng đều khai không nhớ BKS và đặc điểm riêng của chiếc xe máy này.
Tại kết luận giám định số 2474/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: 03 tập tin có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 5,81MB được lưu trong USB nhãn hiệu KINGSTON 32GB đã qua sử dụng không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa; Trích xuất 04 hình ảnh lập thành Bản ảnh.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình T khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người liên quan trong vụ án, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, phù hợp với Kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Trọng P đều khai: Khi gặp nhau tại quán nét, Tuấn A rủ P đi chơi, P không biết chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 18B2-376.02 là do nhóm của Tuấn A trộm cắp được.
Tại Cáo trạng số 144/CT-VKSHA ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 101, điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 58 ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 16 tháng tù đến 19 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, chưa xác minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen bạc, số khung: RLHJA3910KY171172 và số máy: JA39E1028862 có BKS: 18B2-376.02 cho anh Cao Quốc T1 là người đang toàn quyền quản lý và sử dụng chiếc xe này.
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA VISION, màu xanh, BKS: 15B2-403.59, có số khung: RLHJF5809EY583620 và số máy: JF58E0469375 cho chị Đỗ Thị H là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình T đã bồi thường cho anh Cao Quốc T1 số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Anh Cao Quốc T1 không còn yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nhận thức còn hạn chế, sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình, quá trình từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện khắc phục thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự . Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn so với mức hình phạt mà vị Đại diện viện kiểm sát đã đề nghị trước phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người liên quan trong vụ án, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, phù hợp với Kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Khoảng 03 giờ giờ 00 phút ngày 03/4/2024 tại tầng 1 nhà số A đường V, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng - Nguyễn Đình T cùng các đối tượng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn M và Phạm Đức V thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: BKS: 18B2-376.02 trị giá 11.971.000 đồng (Mười một triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) của anh Cao Quốc T1. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn góp phần gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, trong vụ án này bị cáo là người chưa thành niên, chưa có đầy đủ nhận thức về hành vi phạm tội của mình, bị cáo mới chỉ học đến hết lớp 6 nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về nhân thân của bị cáo: Tại bản án số 58 ngày 26/7/2024, Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Do thời điểm phạm tội, Nguyễn Đình T chưa đủ 18 tuổi, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự được coi là không có án tích.
[5] Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đình T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Đình T đã tự thú, hành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt chính: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn góp phần gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, bị cáo đã từng vi phạm về tội phạm tương tự cho thấy bị cáo vẫn chưa nhận thức hết được hành vi phạm tội của mình, do vậy cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Khi phạm tội bị cáo được 16 tuổi 7 tháng 3 ngày, nên áp dụng hình phạt của bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự : “mức hình phạt của cao nhất được áp dụng không qua 3 phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”. Do bị cáo đang chấp hành án của Bản án số 58 ngày 26/7/2024 Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản nên căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án.
Đối với các đối tượng: Nguyễn Tuấn A - sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 15 tuổi 8 tháng 16 ngày; Nguyễn M - sinh ngày 16 tháng 6 năm 2008, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 15 tuổi 9 tháng 17 ngày; Phạm Đức V - sinh ngày 29 tháng 6 năm 2008 thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 15 tuổi 9 tháng 4 ngày, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các đối tượng trên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và cũng không có căn cứ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo khoản 2 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Trọng P không bàn bạc và biết việc các đối tượng trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: BKS: 18B2-376.02. Hành vi không cấu thành tội che giấu, không tố giác tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, chưa xác minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen bạc, số khung: RLHJA3910KY171172 và số máy: JA39E1028862 là số máy nguyên thuỷ có BKS: 18B2-376.02 cho anh Cao Quốc T1 (nguồn gốc xe là của anh Cao Quang S đứng tên là chủ sở hữu xe đã cho anh Cao Quốc T1 toàn quyền quản lý và sử dụng chiếc xe này) .
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA VISION, màu xanh, BKS: 15B2-403.59, có số khung: RLHJF5809EY583620 và số máy: JF58E0469375 là số máy nguyên thuỷ cho chị Đỗ Thị H là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade do đối tượng Nguyễn Tuấn A điều khiển: do không xác định được BKS và đặc điểm riêng nên không có căn cứ để thực hiện các biện pháp truy tìm.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình T đã bồi thường cho anh Cao Quốc T1 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Anh Cao Quốc T1 không còn yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và rất ăn năn hối cải nên mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 101, điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 (bẩy) tháng tù tại Bản án số 58 ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 02 (hai) bản án là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2024.
Về xử lý tang vật: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen bạc, số khung: RLHJA3910KY171172 và số máy: JA39E1028862 là số máy nguyên thuỷ có BKS: 18B2-376.02 cho anh Cao Quốc T1 là người đang toàn quyền quản lý và sử dụng chiếc xe này.
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA VISION, màu xanh, BKS: 15B2-403.59, có số khung: RLHJF5809EY583620 và số máy: JF58E0469375 là số máy nguyên thuỷ cho chị Đỗ Thị H là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Văn Tuyến |
Nơi nhận:
- - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
- - VKSND quận Hải An;
- - VKSND thành phố Hải Phòng;
- - CQCSĐT – Công an quận Hải An;
- - CQTHAHS - Công an quận Hải An;
- - PV06 - Công an TP Hải Phòng;
- - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- - Chi cục THADS quận Hải An;
- - Trại tạm giam - Công an Hải Phòng;
- - TAND thành phố Hải Phòng
- - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Nguyễn Đình T
