|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 154/2024/HS-ST Ngày 18 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Việt Hưng;
- Ông Lâm Đức Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Đào Anh T, sinh ngày 18 tháng 11 năm 1976 tại tỉnh Nam Định. Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 14/8/2021. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số C, đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn K (đã chết) và bà Đinh Thị Tuyết L; có vợ Trần Thị Phương H (đã ly hôn), con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: chưa từng bị kết án, xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50015 ngày 13/02/2006 của Công an thành phố H, Đào Anh T bị xử phạt 200.000 đồng về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác, đã được xóa; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/8/2024, tạm giam từ ngày 04/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Ngô Quang V, sinh năm 1978, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967, trú tại: thôn T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1954, trú tại: căn hộ D, tầng H, nhà B, Chung cư A tầng, Cầu D, T, Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Đỗ Phi H1, sinh năm 1978, trú tại: số E, phố B, khối G, phường H, thành phố L; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/9/2012, ông Nguyễn Văn S mua xe ô tô nhãn hiệu Ford transit, màu sơn trắng - vàng, biển kiểm soát 29Y-7909 của bà Hoàng Thị M, khi mua bán, hai bên lập hợp đồng mua bán nhưng ông Nguyễn Văn S chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu.
Đầu năm 2015, ông Nguyễn Văn S cho anh Ngô Quang V thuê xe ô tô trên với giá 6.000.000đồng/tháng để kinh doanh dịch vụ vận chuyển chở khách. Giữa hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản, anh Ngô Quang V có toàn quyền quyết định sử dụng xe ô tô phục vụ hoạt động kinh doanh vận chuyển hành khách. Ông Nguyễn Văn S giao cho Ngô Quang V các giấy tờ gồm bản gốc Đăng ký xe ô tô số 0004493 tên Hoàng Thị M; Giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường số 4590087; Bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô.
Cuối tháng 7/2015, Ngô Quang V và Đào Anh T thỏa thuận Ngô Quang V cho Đào Anh T thuê lại xe ô tô với mục đích kinh doanh. Ngô Quang V và Đào Anh T lập hợp đồng thuê xe với nội dung Đào Anh T thuê xe ôtô nhãn hiệu Ford transit, biển kiểm soát 29Y-7909 của bà Hoàng Thị M với giá 25.000.000đồng/tháng để chạy xe khách tuyến Lạng Sơn – Hà Nội, mỗi tháng lập lại hợp đồng một lần.
Ngày 20/7/2015, Đào Anh T điều khiển xe ô tô Ford Transit biển kiểm soát 29Y-7909 chở khách tuyến Lạng Sơn - Hà Nội và quay ngược lại thành phố L, khi chở khách chiều về đến thành phố L, do cần tiền tiêu xài nên Đào Anh T nảy sinh ý định mang xe ô tô trên đi bán. Đào Anh T điều khiển xe ô tô đến gặp Đỗ Phi H1 để thỏa thuận sẽ bán xe cho Đỗ Phi H1 với giá 200.000.000đồng. Đào Anh T nói với Đỗ Phi H1 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29Y-7909 là xe của Đào Anh T. Đào Anh T viết một “Giấy bán (cho, tặng) xe ô tô” rồi giao cho Đỗ Phi H1 giữ kèm theo Giấy đăng ký xe ô tô số 0004493 mang tên Hoàng Thị M (bản gốc), 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc (bản gốc), 01 Giấy chứng nhận kiểm định (bản gốc). Đỗ Phi H1 giao 200.000.000đồng tiền mặt cho Đào Anh T.
Sau khi bán xe, Đào Anh T không nói cho Ngô Quang V biết mà vẫn tiếp tục đề nghị Ngô Quang V cho thuê xe và trả tiền thuê xe thêm 02 tháng với tổng số tiền là 50.000.000đồng. Do tin tưởng nên Ngô Quang V không yêu cầu lập lại hợp đồng thuê xe. Từ tháng 9/2015, Đào Anh T xin nợ tiền thuê và được Ngô Quang V đồng ý. Đến tháng 10/2015, Đào Anh T bỏ trốn, Ngô Quang V nhiều lần gọi điện thoại và đến nhà tìm Đào Anh T để đòi xe nhưng không gặp. Đến ngày 19/12/2015, Ngô Quang V phát hiện xe ô tô Ford, biển kiểm soát 29Y-7909 đang ở gara ô tô V, xã H, thành phố L nên đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 20/12/2015, ông Đỗ Phi H1 đã giao nộp cho Công an thành phố L 01 xe ô tô Ford Transit biển kiểm soát 29Y-7909 và 01 chìa khóa xe ô tô.
Biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự ngày 15/01/1016 của Hội đồng định giá tài sản thành phố L xác định xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit màu sơn trắng - vàng, biển kiểm soát 29Y-7909 đã qua sử dụng có giá 240.000.000đồng.
Ngày 21/4/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit kiểm soát 29Y-7909, 01 chìa khóa xe, 01 giấy tờ mua bán giữa bà Hoàng Thị M và ông Nguyễn Văn S, 02 giấy viết tay nhận tiền đặt giữa ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị M cho ông Nguyễn Văn S.
Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ban hành Quyết định truy tìm người số 896 đối với Đào Anh T. Ngày 01/8/2024, Đào Anh T đã đến Công an thành phố L để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Đối với ông Đỗ Phi H1 là người đã mua xe ô tô trên với Đào Anh T. Khi mua xe, Đào Anh T giới thiệu với Đỗ Phi H1 đây là xe của Đào Anh T và đã giao các giấy tờ gốc cho Đỗ Phi H1. Do tin tưởng nên ông Đỗ Phi H1 đã mua lại chiếc xe trên với giá 200.000.000đồng. Khi cơ quan điều tra phát hiện chiếc xe trên là vật chứng của vụ án, ông Đỗ Phi H1 đã giao nộp lại chiếc xe ô tô trên để phục vụ công tác điều tra, do vậy không có căn cứ để xử lý đối với ông Đỗ Phi H1.
Đối với ông Nguyễn Văn S, là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit kiểm soát 29Y-7909, trước khi anh Ngô Quang V cho Đào Anh T thuê xe, ông Nguyễn Văn S đã giao toàn quyền cho anh Ngô Quang V quản lý và sử dụng. Việc Đào Anh T có hành vi chiếm đoạt chiếc xe ô tô trên ông Nguyễn Văn S không có yêu cầu đề nghị gì. Sau khi Cơ quan điều tra thu hồi và trả lại cho ông Nguyễn Văn S xe ô tô, ông Nguyễn Văn S đã bán lại chiếc xe trên cho Ngô Quang V, sau đó Ngô Quang V đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 250.000.000 đồng.
Về vật chứng: Không có.
Về dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Ngô Quang V yêu cầu Đào Anh T bồi thường số tiền 35.000.000đồng, ông Đỗ Phi H1 yêu cầu Đào Anh T bồi thường số tiền 100.000.000đồng. Đào Anh T đã tác động gia đình thực hiện bồi thường thiệt hại, cụ thể: Ngày 03/8/2024, chị Đào Thu T1 là em gái của Đào Anh T đã bồi thường cho ông Đỗ Phi H1 đầy đủ số tiền 100.000.000đồng, ngày 07/8/2024 chị Đào Thu T1 bồi thường cho Ngô Quang V 35.000.000đồng. Ông Đỗ Phi H1, anh Ngô Quang V không yêu cầu bồi thường gì thêm và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với Đào Anh T.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 21-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đào Anh T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo trình bày bị cáo biết hành vi của mình là sai nên đã tác động em gái Đào Thu T1 giúp bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Ngô Quang V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Phi H1 đầy đủ theo yêu cầu, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bồi thường thiệt hại của bị cáo.
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Anh T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; căn cứ vào khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50; khoản 3 điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, đề nghị xử phạt bị cáo Đào Anh T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Ngô Quang V 35.000.000đồng; bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Phi H1 100.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo xin được gửi lời xin lỗi bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong 10 năm nay bị cáo đã rất hối hận, ăn năn hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tuy nhiên bị hại anh Ngô Quang V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Phi H1 đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị M, ông Nguyễn Văn S đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết, xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 20/7/2015, bị cáo Đào Anh T ký hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit biển kiểm soát 29Y-7909 màu trắng - vàng với anh Ngô Quang V để kinh doanh vận chuyển khách tuyến đường L - Hà Nội và ngược lại. Cùng ngày, sau khi chạy xe chở khách chiều về Hà Nội - Lạng Sơn, do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Đào Anh T đã lấy chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29Y-7909 nói trên bán cho ông Đỗ Phi H1 được 200.000.000đồng. Để che giấu việc bán chiếc xe, bị cáo Đào Anh T đã gia hạn thuê xe với anh Ngô Quang V, đến tháng 11/2015 vì không còn khả năng trả tiền thuê xe, bị cáo Đào Anh T đã bỏ trốn về quê sau đó vào thành phố Hồ Chí Minh và không sử dụng số điện thoại đang dùng, mục đích để chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29Y-7909. Kết luận định giá tài sản đã xác định chiếc xe ô tô bị chiếm đoạt có giá 240.000.000đồng.
[4] Hành vi nêu trên của bị cáo thực hiện tại thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực thi hành, đến năm 2024 mới khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Xét thấy, theo khoản 3 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì trường hợp lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm; tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định trường hợp trên bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. Như vậy, điều luật của Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định hình phạt nhẹ hơn, cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để xác định hành vi của bị cáo Đào Anh T thực hiện đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý lợi dụng lòng tin của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản phục vụ nhu cầu lợi ích cá nhân. Để có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như sau:
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại được 35.000.000đồng, bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 100.000.000đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã đầu thú ngày 31/7/2024, hơn nữa, bị cáo có ông nội Đào Xuân K1 là liệt sĩ, ông ngoại Đinh Trọng Đ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[8] Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa từng bị kết án, bị xử lý kỷ luật, nhưng đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm giữ tài sản người khác và đã được xoá, nên xác định có nhân thân chưa tốt.
[9] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[10] Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại Ngô Quang V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Phi H1, không ai có yêu cầu bồi thường thêm, bị cáo đề nghị Toà án ghi nhận nội dung thoả thuận, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét ghi nhận nội dung bồi thường thiệt hại của bị cáo.
[12] Về việc xử lý vật chứng: Không có.
[13] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong trước khi xét xử nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[14] Đối với ông Đỗ Phi H1, không biết chiếc xe ô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Ford Transit biển kiểm soát 29Y-7909 màu trắng - vàng là tài sản do bị cáo Đào Anh T phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không xử lý trong vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[15] Đối với bà Hoàng Thị M là người đứng tên chủ sở hữu trên giấy tờ xe ô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Ford Transit biển kiểm soát 29Y-7909 nhưng đã bán xe cho ông Nguyễn Văn S và tự xác định không có liên quan gì đến chiếc xe nữa nên không đưa ra yêu cầu, đề nghị gì. Về phía ông Nguyễn Văn S, tại cơ quan điều tra ông Nguyễn Văn S khai nhận, sau khi được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit biển kiểm soát 29Y-7909, ông đã bán lại cho anh Ngô Quang V nên đến nay ông không có yêu cầu, đề nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[16] Xét thấy, nội dung đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[17] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo đối với phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; 50; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, fkhoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Đào Anh T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Xử phạt bị cáo Đào Anh T 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc thoả thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Đào Anh T và bị hại Ngô Quang V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Phi H1 như sau:
Bị cáo Đào Anh T đã bồi thường thiệt hại đủ số tiền 35.000.000đồng (ba mươi lăm triệu đồng) cho bị hại Ngô Quang V.
Bị cáo Đào Anh T đã bồi thường thiệt hại đủ số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Phi H1.
- Về xử lý vật chứng: Không có.
- Về án phí: Buộc bị cáo Đào Anh T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo đối với phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Phương Thảo |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Anh Tuấn Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo K3Đ175 BLHS
