|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 154/2024/HS-ST Ngày: 15/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bình
Ông Ngô Văn Sỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Nhà sinh hoạt cộng đồng Khu dân cư H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Chế Viễn Long P, sinh ngày 26/10/1993 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số nhà E đường H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chế Văn T và bà Mai Thị Thu T1.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 18/3/2014 bị Công an quận H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
- - Ngày 14/11/2024 bị Công an quận L xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 21/6/2024. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh Viết Nhật H, sinh năm 1957; trú tại: Tổ E, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Bà Mai Thị Thu T1, sinh năm 1969; trú tại: Số E H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 45 phút ngày 18/01/2024, Chế Viễn Long P liên hệ với một người tên T2 (không rõ lai lịch nơi ở) để mua 02 gói ma tuý dạng cỏ với giá 5.000.000 đồng. P chuyển tiền qua tài khoản zalopay cho T2 rồi hẹn đến trước quán N trên đường N, thành phố Đà Nẵng để nhận ma túy. Sau đó, P điều khiển mô tô biển kiểm soát 43D1-324.43 đến điểm hẹn lấy 02 gói ma tuý dạng cỏ đã được T2 để sẵn trước đó rồi để phía trước xe, đồng thời theo yêu cầu của T2, P xoá zalo của T2 rồi điều khiển xe về hướng nhà P. Khi đi ngang nhà số K 1 đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, P thấy có 01 con chim chào mào đang ở trong lồng treo phía trước nhà của ông Hồ C nên P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nghĩ là làm, P trèo lên hàng rào lấy trộm lồng chim rồi điều khiển xe chạy thoát. Lúc này ông Hồ C phát hiện nên truy hô, P thả lại lồng chim rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Ông Hồ C cùng ông Bùi Hoàng A rượt đuổi theo, P điều khiển xe đến Kiệt F đường T, tổ I, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do ngõ cụt nên P bỏ lại xe cùng 02 gói ma tuý dạng cỏ rồi bỏ trốn.
Đến ngày 22/01/2024, Chế Viễn Long P đến trụ sở Công an phường H, quận L, TP để trình diện và được đưa đi cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng. Tại Cơ quan điều tra, Chế Viễn Long P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng tạm giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Classico biển kiểm soát 43D1-324.43
- - 02 gói nilong bên trong chứa thảo mộc khô, đã được niêm phong theo quy định;
- - 01 ví da màu đen bên trong có 01 chứng minh nhân dân mang tên Chế Viễn Long P và số tiền 2.690.000 đồng.
Tại Kết luận định giá số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L xác định giá trị 01 con chim chào mào 700.000 đồng; 01 lồng chim 120.000 đồng, tổng tài sản bị chiếm đoạt là 820.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 372/KL-KTHS ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận:
- - Mẫu thảo mộc khô màu xanh bên trong bao ni lông màu trắng, kích thước (34x32)cm gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA; khối lượng mẫu là 473,39 gam.
- - Mẫu thảo mộc khô màu nâu dạng sợi bên trong bao ni lông màu vàng, kích thước (37x10)cm gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en- PINACA và MDMB-FUBINACA; khối lượng mẫu là 473,32 gam
Tại bản kết luận giám định số: 2355/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của V Bộ C1 xác định:
- - Hàm lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu thảo mộc màu xanh gửi giám định là 0,58%.
- - Hàm lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu thảo mộc màu nâu gửi giám định là 0,61%. Lượng MDMB-FUBINACA trong mẫu rất nhỏ (dạng vết), dưới định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng MDMB- FUBINACA trong mẫu.
Tại Công văn số 418/C09C-Đ2 ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng xác định:
- - Đối với mẫu thảo mộc màu xanh có khối lượng là 473,39 gam; hàm lượng ma tuý MDMB-4en-PINACA là 0,58% thì khối lượng chất ma tuý MDMB-4en- PINACA trong mẫu là 2,74 gam.
- - Đối với mẫu thảo mộc màu nâu có khối lượng là 473,32 gam; hàm lượng ma tuý MDMB-4en-PINACA là 0,61% thì khối lượng chất ma tuý MDMB-4en- PINACA trong mẫu là 2,88 gam.
Tại bản cáo trạng số: 138/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Chế Viễn Long P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chế Viễn Long P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị:
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chế Viễn Long P từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; trả lại cho bị cáo 01 Chứng minh nhân dân mang tên Chế Viễn Long P; trả lại cho bà Mai Thị Thu T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Classico biển kiểm soát 43D1-324.43; tạm giữ số tiền 2.690.000 đồng của bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào khoảng 8 giờ 45 phút, ngày 18/01/2024, tại tổ I, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Chế Viễn Long P đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy dạng cỏ khối lượng 946,7 gam có chứa 5,62 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt.
[4] Xét hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện việc tàng trữ trái phép ma tuý. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tổn hại đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, trong lần phạm tội này bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm nên đã bị cơ quan công an ra quyết định xử phạt hành chính; điều này thể hiện bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội về ma túy nên cần áp dụng khoản khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 2.690.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. Đối với Chứng minh nhân dân mang tên Chế Viễn Long P là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Classico biển kiểm soát 43D1-324.43 là thuộc sở hữu của bà Mai Thị Thu T1, bà Mai Thị Thu T1 không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma túy nên cần trả lại xe nói trên cho bà Mai Thị Thu T1 là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:
[8.1] Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
[8.2] Đối với việc bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản là 01 lồng chim và 01 con chim chào mào của anh Hồ C vào ngày 18/01/2024. Tại Kết luận định giá số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L xác định giá trị 01 con chim chào mào 700.000 đồng, 01 lồng chim 120.000 đồng, tổng tài sản bị chiếm đoạt là 820.000 đồng. Quá trình điều tra xác định bị cáo Chế Viễn Long P không có tiền án tiền sự liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó, cơ quan Công an ra quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo là có cơ sở.
[8.3] Đối với bà Mai Thị Thu T1 không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô của mình đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Chế Viễn Long P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử phạt bị cáo Chế Viễn Long P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giam ngày 21/6/2024.
Xử phạt tiền bị cáo Chế Viễn Long P 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) thùng giấy được niêm phong đựng mẫu hoàn trả là chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định theo Kết luận giám định số 2355/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của V - Bộ C1.
Tạm giữ số tiền 2.690.000 đồng của bị cáo Chế Viễn Long P để đảm bảo thi hành án.
T3 trả lại cho bị cáo Chế Viễn Long P 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Chế Viễn Long P.
T3 trả lại cho bà Mai Thị Thu T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Classico biển kiểm soát 43D1-324.43.
(Toàn bộ vật chứng hiện Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024).
Buộc bị cáo Chế Viễn Long P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Anh Tuấn |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chế Viễn Long p phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
