TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2024/HS-ST Ngày: 07-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Công Lương
- Ông Trần Hải
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Bích Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/Trần Văn Rin. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10/01/1992 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ B phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ văn hóa: 09/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Trần Văn L (Sinh năm: 1972) và bà Đặng Thị T (Sinh năm: 1972) đều còn sống; Gia đình bị cáo có 03 anh em. Bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Nguyễn Phan Yến N và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
2/ Lê Văn T1. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 27/6/1992 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: tổ C phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Chổ ở: Số H L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ văn hóa: 12/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Lê Văn S (Sinh năm: 1969) và bà Nguyễn Thị Thu H (Sinh năm: 1970) đều còn sống; Gia đình bị cáo có 03 anh em. Bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Nguyễn Thị N1 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1: Bà Lê Thị Mai H1- Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: Số G T, quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Thảo M, Sinh năm: 2024. Địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Bà Huỳnh Thị Tuyết . Sinh năm: 1957. Địa chỉ: K L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- Người chứng kiến:
Ông Hoàng Phương N2. Sinh năm: 1998. Địa chỉ: tổ A phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 24/7/2024, Trần Văn R cùng Lê Văn T1 đến quán B, số D đường T, thành phố Đà Nẵng để uống bia, sau đó, R rủ Tốt qua bar TOP TV, thành phố Đà Nẵng để chơi và sử dụng ma túy, T1 đồng ý. Cả 2 thống nhất R sẽ liên hệ mua và trả tiền ma túy thuốc lắc, Ketamine, hôm sau sẽ tính tiền và chia đôi cùng trả. Rin liên hệ cho T2 (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Telegram để hỏi mua 01 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên ma túy thuốc lắc với giá 2.200.000 đồng, hẹn giao tại khu vực đường D và N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau khi liên hệ xong, T1 điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 43F1 - 06090 chở R đến địa điểm đã hẹn để lấy ma túy, R xuống xe đến lấy ma túy trực tiếp từ T2 và hẹn trả tiền sau. Sau khi lấy ma túy, T1 chở R đến bar TOP TV, thành phố Đà Nẵng, khoảng 22 giờ 45 phút, cả hai đang đi đến đường B nối dài, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng thì bị Đội CSĐTTP về ma túy, Công an quận H phối hợp với Lực lượng tuần tra 911 Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Trong lòng bàn tay phải của Rin 01 gói nilông kích thước (4x7)cm bên trong có chứa 13 mảnh vỡ màu xám và 01 gói nilông kích thước (3x3,5)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng, niêm phong ký hiệu là A.
- 01 điện thoại di động màu đen, hiệu S1, số Imei 1: 351843260620388, số Iemi 2: 352898470620387, gắn sim số: 0935.202.971, là điện thoại của Trần Văn R, dùng để liên lạc mua ma tuý;
- 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu Iphone, số Imei 1: 355782153609585, số Imei 2: 355782153664176, gắn sim số: 0905.636.353 và 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart, số Iemi 1: 358877981196396, số Imei 2: 358877981196404, gắn sim số: 0705.007.051, là các điện thoại của Lê Văn T1, dùng để liên lạc cá nhân;
- 01 xe mô tô 02 bánh, dung tích 50-175cm nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát 43F1-060.90, số khung: RLHJA3925NY486207, số máy: JA39E-2930385 của Lê Văn T1.
* Theo Kết luận giám định số 614/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an T: Mẫu ký hiệu A được chia thành hai mẫu A1, A2: Các mảnh vỡ màu xám ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu A1: 2,344 gam; Chất bột màu trắng trong 01 gói ni lông ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu A2: 0,866 gam.
Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng tỷ lệ phần trăm các chất ma túy thu giữ được tính như sau: 2,344 : 5 x 100% + 0,866 : 20 x 100% = 51,21% < 100%. Do đó, tổng khối lượng của 02 chất ma túy MDMA và Ketamine mà Trần Văn R và Lê Văn T1 tàng trữ trái phép thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Biên bản kiểm tra điện thoại hiệu hiệu S1, gắn sim số: 0935.202.971 của Trần Văn R có 04 cuộc gọi đi đến số điện thoại 0905.636.xxx của Tốt vào ngày 24/7/2024 lúc 10h18' thời lượng 06 giây, 20h39 phút thời lượng 47 giây, 20h59' thời lượng 31 giây, 21h58' thời lượng 13 giây. Kiểm tra 02 điện thoại của T1 không thu giữ nội dung liên quan đến ma tuý.
Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 01/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần Văn R, Lê Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; Do các bị cáo là lao động phổ thông, không xác minh được tài sản của các bị cáo nên không đề xuất áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với 01 bì niêm phong chứa 1,676 gam mẫu ký hiệu A1; 0,690 gam mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 614/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ là tang vật của vụ án.
Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động màu đen, hiệu S1, số Imei 1: 351843260620388, số Iemi 2: 352898470620387, gắn sim số: 0935.202.971 là điện thoại của Trần Văn R dùng để liên lạc mua ma tuý.
T3 trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu Iphone, số Imeil: 355782153609585, số Imei2: 355782153664176, gắn sim số: 0905.636.353 và 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart, số Iemi 1: 358877981196396, số Imei 2: 358877981196404, gắn sim số: 0705.007.051 là các điện thoại của Lê Văn T1 không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 43F1- 06090, T1 khai là xe được chị L1 (không rõ lai lịch) cho. Qua xác minh, xe có số khung, số máy trên đứng tên Nguyễn Ngọc Châu N3 và con gái ông N3 là Nguyễn Thị Thảo M sử dụng. Ngày 05/01/2024 M để xe trên tại trước nhà số B đường P, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng thì bị mất trộm nên Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Đà Nẵng đã bàn giao xe trên cho Công an phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng để tiến hành điều tra theo thẩm quyền là có căn cứ nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người chứng kiến đều vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt và các bị cáo đều xác định lời khai của họ là phù hợp với hành vi vi phạm của các bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 là luật sư Lê Thị Mai H1 thống nhất quan điểm luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, luật sư phân tích thêm về điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo, bị cáo Trần Văn R là người có nhân thân tốt, đã từng tham gia phục vụ trong quân đội, có cha bị bệnh nặng; bị cáo Lê Văn T1 cũng là người có nhân thân tốt và là lao động chính nuôi 04 con nhỏ, cha bị cáo cũng đau nặng cần có người chăm sóc nên đề nghị Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ hơn mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị để các bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 không có ý kiến bào chữa bổ sung và không có ý kiến tranh luận gì.
Về trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 24/7/2024 cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 24/7/2024 tại đường B nối dài, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Trần Văn R và Lê Văn T1 có hành vi cất giấu 2,344 gam ma túy MDMA và 0,866 gam ma túy Ketamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận H phát hiện, bắt quả tang.
Căn cứ Kết luận giám định số 614/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K tại thành phố Đà Nẵng xác định: Các mảnh vỡ màu xám ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu A1: 2,344 gam; Chất bột màu trắng trong 01 gói ni lông ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu A2: 0,866 gam và các bị cáo thừa nhận tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng; hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính bộc phát giữa các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, cấu kết nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn. Do đó, hành vi của các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo vẫn thực hiện và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên cần phải xử cách ly các bị cáo R, T1 ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 đều có thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, các bị cáo đều có nhân thân tốt; bị cáo Trần Văn R đã từng tham gia phục vụ trong quân đội, có cha bị bệnh nặng; bị cáo Lê Văn T1 là lao động chính trong gia đình nuôi bốn con nhỏ và cũng có cha bị bệnh nặng nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, ...tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét các bị cáo là lao động phổ thông, không chứng minh được các bị cáo có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn T1 Công an quận H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với thanh niên tên T2 (không rõ lai lịch) là người bán ma tuý cho R. Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì niêm phong chứa 1,676 gam mẫu ký hiệu A1; 0,690 gam mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 614/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ là tang vật của vụ án cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động màu đen, hiệu S1, số Imei 1: 351843260620388, số Iemi 2: 352898470620387, gắn sim số: 0935.202.971 là điện thoại của Trần Văn R dùng để liên lạc mua ma tuý nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu Iphone, số Imei 1: 355782153609585, số Imei 2: 355782153664176, gắn sim số: 0905.636.353 và 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart, số Iemi 1: 358877981196396, số Imei 2: 358877981196404, gắn sim số: 0705.007.051 là các điện thoại của Lê Văn T1 không có nội dung liên quan đến việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T1.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 43F1- 06090, T1 khai là xe được chị L1 (không rõ lai lịch) cho. Qua xác minh, xe có số khung, số máy trên đứng tên Nguyễn Ngọc Châu N3 và con gái ông N3 là Nguyễn Thị Thảo M sử dụng. Ngày 05.01.2024 M để xe trên tại trước nhà số B đường P, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng thị bị mất trộm nên Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Đà Nẵng đã bàn giao xe trên cho Công an phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng để tiến hành điều tra theo thẩm quyền là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn R 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2024.
1.2 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong chứa 1,676 gam mẫu ký hiệu A1; 0,690 gam mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 614/KL-KTHS ngày 31.7.2024 của Phòng K Công an thành phố Đ.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màu đen, hiệu S1, số Imei 1: 351843260620388, số Iemi 2: 352898470620387, gắn sim số: 0935.202.971.
Trả lại cho bị cáo Lê Văn T1 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu Iphone, số Imei 1: 355782153609585, số Imei 2: 355782153664176, gắn sim số: 0905.636.353 và 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart, số Iemi 1: 358877981196396, số Imei 2: 358877981196404, gắn sim số: 0705.007.051.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024.
3. Về án phí HSST: Bị cáo Trần Văn R, Lê Văn T1 mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng y).
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/7/2024. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Mỹ Dung |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Rin, Lê Văn Tốt phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
