|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2024/HSST
Ngày: 30/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Tuyên và ông Nguyễn Đức T
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Long– Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, Toà án nhân dân huyện Thái Thuy xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXX-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đỗ Minh T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/02/1999. Nơi cư trú: Số nhà xx, tổ dân phố số x, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: TDP H, thị trấn D, huyện T, Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề ngH: Lao động tự do; Bố đẻ: không xác định được, mẹ đẻ: Bùi Thị Y, sinh năm 1975. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 09/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt tại phiên toà).
- Lê Hồng H tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/9/1997; Nơi cư trú: số nhà xx, tổ dân phố số x, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề ngH: Lao động tự do; Con Lê Hồng Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị TU, sinh năm 1975; Vợ Lê Thị M, sinh năm 1994; có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không; Bị
cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 09/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đinh Xuân N, sinh năm 1998 – Vắng mặt
- Bà Bùi Thị Y, sinh năm 1975 – Có mặt
Trú tại: Tổ dân phố Hạnh Phúc, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Trú tại: Số nhà B, tổ dân phố số x, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1977 – Vắng mặt,
- Ông Bùi Thanh Q, sinh năm 1964 – Vắng mặt,
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Tổ dân phố số x, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hồng H và Đỗ Minh T là bạn quen biết nhau. Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 02/6/2024, T nhắn tin qua ứng dụng Messenger của T, mang tên “Đỗ Minh T” vào tài khoản mang tên “Bup Chill” của H với nội dung: “Anh, em có 200. Cho em vài khói đỡ buồn với”. H hiểu ý T là muốn góp 200.000 đồng để sử dụng ma túy đá. H nhắn lại là: “ok lên đây”; T nhắn tin cho H: “Vâng. Vậy em về đây”. H nhắn lại: “kiếm thêm được 100 nữa thì đẹ”; ý H bảo T góp thêm 100.000 đồng nữa để mua ma túy. T nhắn tin cho H: “Vâng đợi em về xem. Nhưng chắc có 200 thôi anh ạ”. H nhắn tin lại: “ok sợ hom hem k đủ chơi. Ah chơi r, đá đưa tí thôi”. T nhắn tin: “Vậy 300 mới đủ à anh”. H nhắn tin lại: “Nếu k xoay đc thì 200 cũng đc”. T nhắn: “em sợ ko đủ”. H trả lời: “uk lên đây ah xem nó bán k”. T nhắn tin “vâng”. Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày T điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, gắn biển kiểm soát 15M1- 081.67 đến nhà H. T vào trong phòng ngủ ngồi xuống ghế nhựa. H hỏi T tiền 200.000 đồng để mua ma túy đâu và muốn vay thêm 500.000 đồng của T để chi tiêu cho bản thân. T đồng ý và sử dụng số tài khoản 102867443589 ngân hàng VietinBank mang tên Đỗ Minh T chuyển đến tài khoản
ngân hàng CAKE Bank (Cake by VPBank) số 0584830228, tài khoản tên Lê Hồng H số tiền 700.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, H lấy xe mô tô Yamaha Exciter của T đi mua ma túy đá. Trên đường đi H vào quán nước ven đường tại tổ dân phố số 1, thị trấn Diêm Điền gặp và chuyển khoản cho một người đàn ông không quen biết để đổi lấy 200.000 đồng tiền mặt. Sau khi đổi được tiền mặt, H đi đến khu vực cầu Diêm Điền, thuộc tổ dân phố số 1, thị trấn Diêm Điền gặp và mua được của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy H cầm túi ma túy đá ở tay rồi điều khiển xe về nhà. Khi về đến nhà, H để xe mô tô ở ngoài cửa và đi vào trong nhà lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế để trên mặt bàn nhựa màu xanh gồm 01 chai nhựa trong suốt bên trong có nước và nắp chai màu trắng, trên mặt nắp chai được đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu đỏ tím, một lỗ gắn 01 ống thủy tinh trong suốt hình gấp khúc một đầu hình cầu có lỗ tròn. H lấy túi ma túy đá vừa mua được đổ một nửa ma túy vào trong cóng thủy tinh, một nửa ma túy còn lại để trên mặt bàn nhựa màu xanh. H ngồi lên mép giường rồi lấy 01 bật lửa màu đỏ mồi lửa cho 01 bật lửa bằng nhựa trong suốt ở đầu ra ga có gắn 01 ống kim loại màu trắng để đốt ma túy trong cóng thủy tinh rồi tự sử dụng ma túy, sử dụng xong H đặt bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên mặt bàn nhựa màu xanh. Sau đó T tự cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ở mặt bàn dùng bật lửa châm lửa đốt ma túy sử dụng rồi đặt bộ dụng cụ xuống mặt bàn. Sử dụng được mỗi người một lượt, H và T ngồi lên trên giường để sử dụng điện thoại đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện Thái Thụy bắt quả tang. Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện trước mặt H và T có 01 bàn nhựa màu xanh, trên mặt bàn có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, bên cạnh bộ dụng cụ có 01 túi nilon trong suốt một mép có gờ cài bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt và 02 bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ và 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa trong suốt đầu ra có gắn 01 ống kim loại màu trắng. H và T khai nhận đó là các dụng cụ mà H và T vừa dùng để sử dụng ma túy đá. Tổ công tác tiến hành niêm phong 01 ống thủy tinh trong suốt hình gấp khúc một đầu hình cầu có lỗ tròn, bên ngoài có ám muội màu đen, bên trong có chất bám dính màu nâu và 01 túi nilon trong suốt có mép cài bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt và tiến hành kiểm tra phát hiện trên mặt giường ngủ cạnh nơi H đang ngồi có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã sử dụng. Phát hiện trên mặt giường ngủ cạnh chỗ T đang ngồi có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng. Kiểm tra người H và T không phát hiện thu giữ gì khác. Tổ công tác
kiểm tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter vỏ màu xanh, xám, gắn biển kiểm soát 15M1 – 081.67 không phát hiện thu giữ gì.
Ngày 03/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hồng H tại tại số nhà 409B/499, tổ dân phố số 1, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và chỗ ở của Đỗ Minh T tại tại tổ dân phố Hổ Đội 3, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, quá trình khám xét không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma tuý.
- Bản kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Trong các mẫu nước tiểu M1 thu của Lê Hồng H, M2 thu của Đỗ Minh T gửi giám định đều tìm thấy ma tuý, loại Methamphetamine. Methamphetamine STT: 247, Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Bản kết luận giám định số 803/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất bám dính màu nâu trong phong bì niêm phong vật chứng thu tại mặt bàn trong phòng ngủ của Lê Hồng H, sinh năm 1997, trú tại số nhà 409B/499, tổ dân phố số 01, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, ngày 02/6/2024 (Mẫu số A1) gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất màu nâu bám dính; Chất dạng tinh thể trong suốt trong phong bì niêm phong vật chứng thu tại mặt bàn trong phòng ngủ của Lê Hồng H, sinh năm 1997, trú tại số nhà 409B/499, tổ dân phố số 01, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, ngày 02/6/2024 (Mẫu số A2) gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1170 gam (Không phẩy một nghìn một trăm bảy mươi gam). Methamphetamine STT: 247, Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện tâm thần tỉnh Thái Bình ngày 03/6/2024 xác định: “Các đối tượng Lê Hồng H, Đỗ Minh T, không nghiện chất ma tuý”.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo đều không có ý kiến khiếu nại gì về các kết luận giám định và phiếu kết quả nêu trên.
Cáo trạng số 141/CT-VKSTT ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố các bị cáo Lê Hồng H và Đỗ Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Lê Hồng H và
Đỗ Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T từ 2 năm 9 tháng đến 3 năm tù giam;
- Xử phạt bị cáo Lê Hồng H từ 3 năm đến 3 năm 3 tháng tù giam;
- Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.
Các bị cáo không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo; Các bị cáo không tranh luận và đều nói lời nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Các bị cáo khai nhận: Hồi 21 giờ ngày 02/6/2024, tại phòng ngủ nhà ở của Lê Hồng H số nhà 409B/499, tổ dân phố số 01, thị trấn Diêm Điền huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, các bị cáo hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; trong đó T là người khởi xướng, bỏ tiền để mua ma túy, H là người dùng địa điểm của mình để cùng T sử dụng trái phép chất ma túy, đi mua ma túy, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để cả hai cùng sử dụng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thuỵ lập hồi 21 giờ ngày 02/6/2024; Biên bản bản tạm giữ tài sản đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản thu và niêm phong mẫu nước tiểu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy lập ngày 03/6/2024; sơ đồ hiện trường, biên bản xác định hiện trường; bản ảnh hiện trường do cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thuỵ lập ngày 03/6/2024; biên bản làm việc, kiểm tra, khai thác dữ liệu điện thoại quản lý của Đỗ Minh T, và Lê Hồng H do Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thái Thuỵ lập hồi 04
giờ 05 phút ngày 03/6/2024; bản kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; bản kết luận giám định số 803/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện tâm thần tỉnh Thái Bình ngày 03/6/2024; biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Xuân N, bà Bùi Thị Y; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Đình Tuần và ông Bùi Thanh Quân và cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thuỵ truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[3]. Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trước và trong khi phạm tội không có sự bàn bạc, phân công cấu kết chặt chẽ với nhau, H là người dùng địa điểm của mình để cùng T sử dụng trái phép chất ma túy, đi mua ma túy, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để cả hai cùng sử dụng nên giữ vai trò thứ nhất; T là người bỏ tiền để mua ma túy, cùng sử H sử dụng ma tuý giữ vai trò thứ hai trong vụ.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người trưởng thành, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tổ chức sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, các bị cáo đều không nghiện ma túy nhưng vẫn mua về và tổ chức sử dụng cùng nhau thể hiện sự coi thường pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều
52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo H vai trò cao hơn phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T. Hai bị cáo có nhân thân tốt, việc tổ chức sử dụng không nhằm mục đích thu lợi, trước khi bị bắt các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển kiểm soát 15M1 - 081.67 Đỗ Minh T sử dụng làm phương tiện đi đến nhà Lê Hồng H sử dụng ma tuý. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của mẹ đẻ T là bà Bùi Thị Y, sinh năm 1975, trú tại số nhà 75B, tổ dân phố số 4, nơi ở hiện nay tổ dân phố Hổ Đội 3, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình mua lại của anh Đinh Xuân N, sinh năm 1998, ở tổ dân phố Hạnh Phúc, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng chưa sang tên, đổi chủ nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà Yến là phù hợp.
[7.2] 0,1170 gam Methamphetamine sau khi giám định còn lại 0,0872 gam và toàn bộ bao gói thu tại mặt bàn trong phòng ngủ của Lê Hồng H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 803/KL-KTHS ký hiệu mẫu số A2 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc gửi giám định và toàn bộ bao gói thu tại mặt bàn trong phòng ngủ của Lê Hồng H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 803/KL-KTHS ký hiệu mẫu số A1 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế gồm 01 chai nhựa trong suốt có nắp bằng nhựa màu trắng, trên mặt nắp có 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ tím; 01 chiếc bật lửa bằng nhựa trong suốt đầu ra ga có gắn 01 ống kim loại màu
trắng và 02 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7.3] 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu của Lê Hồng H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu của Đỗ Minh T là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[8] Trong vụ án này, Lê Hồng H khai mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu vực cầu Diêm Điền, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Căn cứ vào Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí sơ thẩm các bị cáo phải chịu án phí hình hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 về
- Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Hồng H và Đỗ Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,
- Hình phạt:
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,1170 gam Methamphetamine sau khi giám định còn lại 0,0872 gam và toàn bộ bao gói thu tại mặt bàn trong phòng ngủ của Lê Hồng H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 803/KL-KTHS ký hiệu mẫu số A2 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình; 01 ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc gửi giám định và toàn bộ bao gói thu tại mặt bàn trong phòng ngủ
- của Lê Hồng H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 803/KL-KTHS ký hiệu mẫu số A1 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế gồm 01 chai nhựa trong suốt có nắp bằng nhựa màu trắng, trên mặt nắp có 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ tím; 01 chiếc bật lửa bằng nhựa trong suốt đầu ra ga có gắn 01 ống kim loại màu trắng và 02 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nươc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu của Lê Hồng H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng thu của Đỗ Minh T.
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 2 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 03/6/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Hồng H 3 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 03/6/2024.
(Các vật chứng, tài sản trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy).
4.Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hương Lan |
9
10
Bản án số 154/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 154/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và H Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
