Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 154/2024/KDTM-ST
Ngày: 11/7/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Nguyễn Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Quang Nhã
  2. Bà Đỗ Thị Kim Nhàn

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Toà án nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân Quận 1, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 297/2023/TLST-KDTM ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6805/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 9389/2024/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T
    Địa chỉ: số A, ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Thái Thiên Q, sinh năm 1992
    Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà A, số D - 446 Cách mạng tháng T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
    (Theo Giấy ủy quyền số 17/UQ-ĐQ.23 ngày 06/11/2023).
  2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V
    Địa chỉ: số B P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1984
    Địa chỉ: số G Đường B, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T có ông Trần Thái Thiên Q là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 01/4/2021, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T (sau đây gọi tắt là Công ty T) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn V (sau đây gọi tắt là Công ty V) ký kết Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 01/2021/HĐKT.ĐQ-NK. Theo đó, hai bên thỏa thuận nội dung mua bán xăng dầu như sau:

Hàng hóa và phương thức mua bán: Công ty T bán cho Công ty V (DO 0,05S) theo phương thức Công ty V điều động phương tiện vận tải của Công ty V đến điểm bán lẻ của Công ty T để bơm nhiên liệu khi có nhu cầu.

Phương thức thanh toán: Định kỳ hàng tháng, Công ty T sẽ gửi cho Công ty V bảng kê số lượng hàng hóa xe của Công ty V đã bơm tại điểm bán lẻ xăng dầu của Công ty T. Trong vòng 3 ngày làm việc, Công ty V có trách nhiệm đối chiếu, ký xác nhận và phản hồi lại cho Công ty T. Đây là cơ sở để xác nhận công nợ và thanh toán cho Công ty T.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán định kỳ vào ngày 05 và ngày 20 hàng tháng.

Nghĩa vụ thanh toán và công nợ chưa thanh toán: Khoản 6.2 Điều VI của Hợp đồng quy định Công ty V có trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho Công ty T như quy định tại khoản 3.2 Điều III của Hợp đồng. Theo đó, Công ty V phải thanh toán định kỳ vào ngày 05 và ngày 20 hàng tháng. Nếu quá thời hạn thanh toán, Công ty V còn phải trả thêm tiền lãi chậm thanh toán bằng 150% lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng lãi cuối kỳ do Ngân hàng Thương mại cổ phần N công bố trên tổng số tiền nợ bị vi phạm.

Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng: Từ ngày 01/4/2021 đến ngày 31/12/2023.

Thực hiện hợp đồng, Công ty T đã cung cấp hàng hóa cho Công ty V theo thỏa thuận. Công ty T cũng đã xuất đầy đủ các hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty V: Hoá đơn giá trị gia tăng số 00000530 ngày 01/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000531 ngày 01/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000533 ngày 02/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000534 ngày 02/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000540 ngày 04/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000547 ngày 07/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000551 ngày 08/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000554 ngày 09/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000558 ngày 10/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000562 ngày 11/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000566 ngày 12/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000569 ngày 13/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000572 ngày 14/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000578 ngày 16/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000583 ngày 17/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000588 ngày 19/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000596 ngày 20/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000605 ngày 22/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000607 ngày 23/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000609 ngày 24/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000614 ngày 26/9/2022, oá đơn giá trị gia tăng số 00000616 ngày 27/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000618 ngày 28/9/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000635 ngày 03/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000638 ngày 04/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000648 ngày 07/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000662 ngày 10/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000663 ngày 10/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000664 ngày 10/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000668 ngày 11/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000673 ngày 12/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000681 ngày 13/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000685 ngày 14/10/2022, hoá đơn giá trị gia tăng số 00000707 ngày 18/10/2022.

Tại Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/2/2023, hai bên thống nhất xác nhận công nợ còn lại như sau: Số tiền còn nợ là 956.677.123 đồng (trong đó số dư đầu kỳ là 815.117.928 đồng và số nợ trong kỳ là 141.559.195 đồng), số tiền đã trả trong kỳ là 450.000.000 đồng, số tiền Công ty V còn nợ Công ty T là 506.677.123 đồng.

Kể từ ngày lập Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ đến nay, Công ty T đã nhiều lần đề nghị, đôn đốc Công ty V thanh toán công nợ nhưng Công ty V vẫn không thanh toán bất kỳ số tiền nào trong khoản công nợ nêu trên.

Nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V trả ngay cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T số tiền còn nợ theo Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 01/2021/HĐKT.ĐQ-NK ngày 01/4/2021 và Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/2/2023, với số tiền nợ gốc là 506.677.123 đồng và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày xét xử là 43.283.414 đồng, tổng cộng là 549.960.537 đồng.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn V Nguyễn Kim L còn phải tiếp tục trả tiền lãi chậm thanh toán phát sinh trên công nợ mua hàng chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đến ngày thanh toán xong khoản nợ.

* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V Nguyễn Kim L và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập xét xử nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 01/2021/HĐKT.ĐQ-NK ngày 01/4/2021. Nội dung hợp đồng thể hiện nguyên đơn bán cho bị đơn mặt hàng dầu Diezen (DO 0,05S). Nguyên đơn đã thực hiện việc bán hàng hóa theo hợp đồng, xuất hóa đơn GTGT và hai bên lập Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/2/2023, theo đó bị đơn còn nợ số tiền 506.677.123 đồng. Đến nay, bị chưa thanh toán số tiền còn nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày xét xử là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại Quận A. Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về nội dung vụ án: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T (sau đây gọi tắt là Công ty T) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn V (sau đây gọi tắt là Công ty V) ký kết Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 01/2021/HĐKT.ĐQ-NK ngày 01/4/2021. Nội dung hợp đồng thể hiện Công ty T bán cho Công ty V (DO 0,05S) theo phương thức Công ty V điều động phương tiện vận tải của Công ty V đến điểm bán lẻ của Công ty T để bơm nhiên liệu khi có nhu cầu. Phương thức thanh toán: Định kỳ hàng tháng, Công ty T sẽ gửi cho Công ty V bảng kê số lượng hàng hóa xe của Công ty V đã bơm tại điểm bán lẻ xăng dầu của Công ty T; trong vòng 3 ngày làm việc, Công ty V có trách nhiệm đối chiếu, ký xác nhận và phản hồi lại cho Công ty T; đây là cơ sở để xác nhận công nợ và thanh toán cho Công ty T. Thời hạn thanh toán: Thanh toán định kỳ vào ngày 05 và ngày 20 hàng tháng.
  4. Hợp đồng được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng nên hợp đồng có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa hai bên.
  5. Thực hiện hợp đồng, Công ty T đã cung cấp hàng hóa dầu Diezen (DO 0,05S) cho Công ty V theo thỏa thuận. Công ty T đã xuất đầy đủ các hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty V.
  6. Tại Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/2/2023, hai bên thống nhất xác nhận công nợ còn lại như sau: Tính đến hết ngày 20/02/2023, Công ty V còn nợ Công ty T số tiền là 506.677.123 đồng.
  7. Từ ngày lập Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ đến nay, Công ty V chưa thanh toán là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký.
  8. Như vậy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ là 506.677.123 đồng là phù hợp với thỏa thuận tại mục 3.2 Điều III của Hợp đồng hai bên đã giao kết và quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Thương mại năm 2005.
  9. Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả theo quy định tại mục 3.2 Điều III của Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 01/2021/HĐKT.ĐQ-NK ngày 01/4/2021.

Về mức lãi suất chậm trả:

Theo mục 3.2 Điều III của Hợp đồng thỏa thuận: Nếu quá thời hạn thanh toán mà Công ty V vẫn chưa thanh toán tiền hàng cho Công ty T thì Công ty T có quyền ngưng cung cấp hàng cho Công ty V. Ngoài việc thanh toán số tiền nợ còn lại, Công ty V còn phải trả thêm tiền lãi chậm thanh toán bằng 150% lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng lãi cuối kỳ do Ngân hàng Thương mại cổ phần N công bố trên tổng số tiền nợ bị vi phạm”.

Căn cứ mức lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng lãi cuối kỳ do Ngân hàng Thương mại cổ phần N công bố tại thời điểm xét xử là 4,1%, do đó mức lãi suất chậm trả theo hợp đồng là: 4,1% x 150% = 6,15%.

Căn cứ Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 và mức lãi suất cho vay trung hạn phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng N1 – Chi nhánh Thành phố H là 7,5%/năm; Lãi suất cho vay trung hạn sản xuất kinh doanh thông thường của Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh Thành phố H là 12,5%/năm; Lãi suất cho vay trung hạn thông thường của Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh Thành phố H là 10%/năm. Như vậy, mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng 150% lãi suất trong hạn được xác định là 15%/năm.

Nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi suất chậm trả theo hợp đồng là 6,15%/năm, là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định pháp luật, nên chấp nhận.

Về thời gian tính lãi chậm trả:

Theo mục 3.2 Điều III của hợp đồng thỏa thuận: Định kỳ ngày 01 và ngày 16 hàng tháng, Công ty T sẽ gửi cho Công ty V bảng kê số lượng hàng hóa xe của Công ty V đã bơm tại điểm bán lẻ xăng dầu của Công ty T. Trong vòng 3 ngày làm việc, Công ty V có trách nhiệm đối chiếu, ký xác nhận và phản hồi lại cho Công ty T. Đây là cơ sở để xác nhận công nợ và thanh toán cho Công ty T. Thời hạn thanh toán: Thanh toán định kỳ vào ngày 05 và ngày 20 hàng tháng.

Đến ngày 20/02/2023, hai bên mới lập Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/2/2023, theo đó xác nhận toàn bộ công nợ còn lại tính đến hết ngày 20/02/2023 là 506.677.123 đồng.

Như vậy, thời gian tính lãi chậm trả được tính từ ngày 21/02/2023 tính đến ngày xét xử là: 506.677.123 đồng x 507 ngày x 6,15%/năm = 43.283.414 đồng.

  1. Tổng cộng, số tiền gốc và lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 506.677.123 đồng + 43.283.414 đồng = 549.960.537 đồng.
  2. Về phương thức thanh toán: Công ty V có trách nhiệm thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 24, khoản 1 Điều 50, Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;
  • - Luật Thi hành án dân sự;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T số tiền còn nợ theo Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 01/2021/HĐKT.ĐQ-NK ngày 01/4/2021 và Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/2/2023 với số tiền nợ gốc là 506.677.123 đồng và tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 43.283.414 đồng, tổng cộng là 549.960.537 đồng.

Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vận tải Nguyễn Kim L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết.

  1. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
    Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 25.998.421 đồng.

Hoàn lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.160.778 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044983 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về quyền kháng cáo:
    Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Nguyễn Mai Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/KDTM-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 154/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger