TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 154/2024/HS - ST Ngày: 13/6/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Ông Vũ Thanh Tùng |
| Các Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Hải Phùng |
| Ông Nguyễn Phan Anh | |
| Bà Trần Phương Ly | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: | |
| Bà Lương Thuý Hà – Kiểm sát viên. |
Ngày 13/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/HSST ngày 11/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 23/2024/HSST-QĐ ngày 07/5/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 24/2024/HSST-QĐ ngày 14/5/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 29/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 31/2024/HSST-Q Đ ngày 04/6/2024 đối với các bị cáo có lý lịch như sau:
1. Họ và tên: Đặng Thị T - Sinh năm: 1982; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà A phố L, phường N, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Đặng Văn X (đã chết) Con bà: Lê Thị T1 - sinh năm 1960; Chồng: Nguyễn Lê Q - sinh năm 1975; Có 02 con: lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 26 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023; Hiện bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Chí H - Sinh năm: 1965; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số A - B, ngõ A phố K, phường K, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Con ông: Nguyễn Trí T2 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H1 (đã chết) Vợ: Thân Thị Thu H2 - sinh năm 1970; Có 02 con: lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự; Ngày 17/4/2001, Đánh bạc - Công an phường K xử phạt hành chính ( đã xoá); D chỉ bản số 25 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023; Hiện bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
3. Họ và tên: Nguyễn Khắc H3 - Sinh năm: 1980; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà A, phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Khắc H4 - sinh năm 1954; Con bà: Doãn Thị B - sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị Lan A - sinh năm 1983; Có 02 con: lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 24 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023; Hiện bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
4. Họ và tên: Vũ Anh T3 - Sinh năm: 1968; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: P206 - B7, ngõ B phố L, phường K, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Vũ Bá T4 (đã chết); Con bà: An Thị N (đã chết); Vợ: Hà Thị N1 - sinh năm 1972; Có 01 con: sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 23 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023; Hiện bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08h30' phút ngày 19/12/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Đ trong quá trình tuần tra kiểm soát tại khu vực ngõ A, phố K, phường K, quận Đ, Hà Nội đã tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Chí H (sinh năm 1965; trú tại số A - B ngõ A, phố K, phường K, quận Đ, Hà Nội). Do không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên tổ công tác đã đưa H về trụ sở làm việc.
Tại cơ quan công an, Nguyễn Chí H xin đầu thú và khai nhận hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề như sau: Khoảng đầu tháng 12/2023, H bắt đầu bán số lô, số đề được thua bằng tiền cho khách nhằm hưởng phần trăm chênh lệch. Khi khách có nhu cầu, nhắn tin các số lô, số đề kèm mức tiền đến số điện thoại 0983.086.xxx của H. Nếu đồng ý, H sẽ nhắn tin lại xác nhận là “ok”. Toàn bộ số lô, đề bán được cho khách trong ngày, H đều nhắn tin chuyển tiếp đến số điện thoại 0876.107.xxx cho Đặng Thị T (sinh năm 1982; trú tại số nhà A phố L, phường N, quận H, Hà Nội).
Về tỉ lệ bị can Huấn bán, chuyển số lô, số đề và tỉ lệ trúng thưởng như sau:
- Tỉ lệ Huấn bán số lô, đề khách là: Số lô x 22 hoặc 22,5; Số đề x 80%, Số lô xiên x 80%.
- Tỉ lệ chuyển đi cho T là: Số lô x 21,75; Số đề x 72,5%; Số lô xiên x 58%.
- Tỉ lệ trúng thưởng là: Số đề nếu trúng sẽ gấp 70 lần số tiền khách mua, số lô nếu trúng 1 điểm khách nhận được 80.000 đồng, số lô xiên 2 gấp 10 lần số tiền khách mua, lô xiên 3 gấp 40 lần và lô xiên 4 gấp 100 lần.
Trong ngày 18/12/2023, H đã bán số lô, số đề cho khoảng 04 khách, trong đó có hai khách mua số lô, đề của H thông qua nhắn tin điện thoại là: Nguyễn Khắc H3 (sinh năm 1980; trú tại số nhà A phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0916.581.xxx và Vũ Anh T3 (sinh năm 1968; trú tại P nhà B, ngõ B phố L, phường K, quận Đ, Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0912.953.xxx. Còn lại 02 khách là khách vãng lai đến uống bia tại quán của H sau đó mua số lô, số đề trực tiếp với H (H không biết nhân thân và địa chỉ của họ). Sau khi bán số lô, đề cho H3, T3 và 02 khách vãng lai, H đã nhắn tin chuyển hết cho T theo tỉ lệ đã thống nhất. Các tin nhắn mua số lô, số đề của H3 và T3, H đã xóa hết trên điện thoại, chỉ còn lưu giữ lại tin nhắn chuyển số lô, đề đến cho T trong ngày 18/12/2023.
Hàng ngày sau khi có kết quả xổ số, H hoặc T sẽ tổng hợp tính thắng thua với nhau sau đó thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, tiện ở đâu thì hẹn gặp và thanh toán ở đó. Đối với H3 và T3 thì H sẽ tổng hợp sau đó nhắn tin cho H3 và T3 số tiền thắng thua trong ngày rồi thanh toán thắng thua trực tiếp với nhau vào ngày hôm sau. Còn đối với khách vãng lai, nếu trúng thì sẽ đến quán bia gặp trực tiếp H để nhận tiền.
Tại cơ quan công an, qua cộng tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Chí H trong ngày 18/12/2023 là: 154.610.000 đồng (một trăm năm tư triệu sáu trăm mười nghìn đồng). Trong đó số tiền H bán số lô, đề cho khách là 68.010.000 đồng và tiền khách trúng thưởng là: 86.600.000 đồng.
Khách mua số lô, số đề của H chủ yếu là khách vãng lai đến uống bia tại quán. Trung bình mỗi ngày H được hưởng lợi 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng), kể từ khi bắt đầu bán số lô, đề H hưởng lợi khoảng 15.300.000 (Mười lăm triệu ba trăm nghìn đồng).
Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Nguyễn Khắc H3, Vũ Anh T3 và Đặng Thị T đến trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, T, H3 và T3 đã đầu thú và khai nhận như sau:
Nguyễn Khắc H3 khai nhận: H3 và H có mối quan hệ xã hội với nhau và biết H có bán số lô, số đề được thua bằng tiền. H3 có nhu cầu mua số lô, số đề nên đã sử dụng số điện thoại 0916.581.xxx nhắn tin các số lô, số đề cần mua kèm mức tiền đến số điện thoại 0983.086.xxx của Huấn với tỉ lệ số lô x 22,5; số đề x 90%. Nếu đồng ý, H sẽ nhắn tin xác nhận là “ok”. H3 bắt đầu mua số lô, số đề của bị can H từ khoảng đầu tháng 12/2023. Tất cả những tin nhắn mua số lô, số đề H3 đã xóa hết chỉ còn lưu giữ tin nhắn mua số lô, số đề các ngày 16/12/2023, ngày 17/12/2023 và ngày 18/12/203.
Trong đó ngày 16/12/2023, H3 đã nhắn tin mua số lô 67 x 250 điểm với tổng số tiền là 5.625.000 đồng. Trong ngày 16/12/2023, H3 trúng thưởng với số tiền là 20.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của H3 ngày 16/12/2023 là 25.625.000 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Ngày 17/12/2023, H3 đã mua các số lô, số đề của H gồm: số lô 26 x 250 điểm, các số lô 34, 43, 97, 62, 87 mỗi con 50 điểm với tổng số tiền mua số lô, số đề là 11.250.000 đồng. Trong ngày 17/12/2023, H3 đã trúng thưởng với số tiền 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của H3 ngày 17/12/2023 là 19.250.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngày 18/12/2023, H3 đã nhắn tin cho H để mua các số lô 23 x 250 điểm, 32 x 50 điểm, 16 x 50 điểm, 74 x 50 điểm; số đề: đầu 7 mỗi con 100.000 đồng với tổng số tiền mua số lô, đề là 10.000.000 đồng. Trong ngày 18/12/2023, H3 đã trúng thưởng với số tiền 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của H3 ngày 18/12/2023 là: 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Vũ Anh T3 khai nhận: T3 và H là hàng xóm ở gần nhà nhau, nên T3 biết H bán số lô, số đề được thua bằng tiền. Đến khoảng đầu tháng 12/2023, T3 bắt đầu mua số lô, số đề của H. T3 sử dụng số điện thoại 0912.953.xxx nhắn tin các số lô, số đề cần mua kèm mức tiền đến số điện thoại 0983.086.xxx của Huấn với tỉ lệ số lô x 22; số đề x 80%; lô xiên x 80%. Tất cả những tin nhắn mua số lô, số đề T3 đã xóa hết, chỉ còn lưu giữ lại tin nhắn mua số lô, số đề với H trong các ngày 17/12/2023 và ngày 18/12/2023.
Trong đó ngày 17/12/2023, T3 đã nhắn tin mua các số lô: 27, 72, 77 mỗi con 50 điểm, lô xiên quay 27, 72, 77 x 100.000 đồng và không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của T3 ngày 17/12/2023 là: 3.700.000 đồng.
Ngày 18/12/2023, T3 đã nhắn tin mua các số lô: 36, 63, 39, 93 mỗi số 50 điểm; số đề: bộ H7 x 200.000 đồng với tổng số tiền mua số lô, số đề là 6.000.000 đồng. Trong ngày 18/12/2023, T3 trúng thưởng số tiền 14.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của T3 ngày 18/12/2023 là: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Đặng Thị T khai nhận: Từ khoảng đầu tháng 12/2023, T bắt đầu bán số lô, số đề cho khách và nhận lại số lô, số đề của Nguyễn Chí H với tỉ lệ: số lô x 21,75; số đề x 72,5%; lô xiên x 58% để tính thắng thua. T sử dụng 02 số điện thoại để bán, nhận số lô, số đề là số 0904663182 và 0876107764. Trong đó, T sử dụng số điện thoại 0876.107.xxx để nhận số lô, số đề của H chuyển đến. Còn đối với khách khi có nhu cầu mua số lô, số đề thì nhắn tin đến số điện thoại 0904.663.xxx của T. Nếu đồng ý, T sẽ nhắn lại xác nhận là “Ok”.
Sau khi biết Nguyễn Chí H đã đầu thú về hành vi tổ chức đánh bạc, T đã xóa toàn bộ tin nhắn nhận số lô, số đề của H và vứt chiếc điện thoại cùng chiếc sim 0876107764 đi (T không nhớ vứt ở đâu). Tại cơ quan công an, qua kiểm tra chiếc điện thoại Iphone 12 Pro lắp sim số 0904663182 của T giao nộp, cơ quan điều tra đã phát hiện nội dung tin nhắn bán số lô, số đề cho đối tượng có số điện thoại 0984.960.xxx được T lưu trong máy là “Cô L (L1)”, là bạn bè quen biết ngoài xã hội (T không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ của L).
Về cách thức thanh toán với H và với khách như sau: Hàng ngày sau khi có kết quả xổ số, T sẽ tổng hợp và thông báo tiền thắng thua cho H và cho khách. Thơm sẽ chủ động hẹn gặp và thanh toán trực tiếp tiền thắng thua cho H và cho khách, tiện ở đâu thanh toán ở đó.
Trong ngày 18/12/2023, T đã sử dụng số điện thoại 0876.107.xxx nhận số lô, số đề của Nguyễn Chí H với tổng số tiền đánh bạc là: 153.904.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu chín trăm linh tư nghìn đồng). Trong đó tổng số tiền khách mua số lô, số đề là 67.304.000 đồng, còn 86.600.000 đồng là tiền khách trúng thưởng. Đối với người phụ nữ tên L sử dụng số điện thoại 0984.960.xxx mua số lô, số đề của T trong ngày 18/12/2023 với tổng số tiền đánh bạc là: 5.670.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), trong đó 3.270.000 đồng là tiền mua số lô, số đề, còn lại 2.400.000 đồng là tiền trúng thưởng.
Ngày 16/12/2023, H nhận số lô 67 x 250 điểm của Nguyễn Khắc H3 với tổng số tiền là 5.625.000 đồng. Sau đó, H chuyển cho T theo tỉ lệ số lô x 21,75 (số tiền H phải chuyển cho T là 5.437.500 đồng). Trong ngày 16/12/2023, H3 trúng thưởng với số tiền là 20.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 16/12/2023 là 25.437.500 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Ngày 17/12/2023, H nhận bán số lô, đề cho H3 gồm: số lô 26 x 250 điểm, các số lô 34, 43, 97, 62, 87 mỗi con 50 điểm với tổng số tiền mua số lô, số đề là 11.250.000 đồng. Sau đó, H đã chuyển cho T theo tỉ lệ số lô x 21,75 (số tiền H phải chuyển cho T là 10.875.000 đồng). Trong ngày 17/12/2023, H3 đã trú ng thưởng với số tiền 8.000.000 đồng; Ngày 17/12/2023, H nhận bán số lô, đề cho T3 gồm: số lô 27, 72, 77 mỗi con 50 điểm, lô xiên quay 27, 72, 77 x 100.000 đồng và không trúng thưởng. Sau đó, H đã chuyển cho T theo tỉ lệ số lô x 21,75 (số tiền H phải chuyển cho T là 3.494.500 đồng). Trong ngày 17/12/2023, T3 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 17/12/2023 là 22.369.500 đồng (hai mươi triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm đồng).
Về số tiền thắng thua hàng ngày, T khai nhận: Từ khi bắt đầu bán, nhận số lô, số đề có ngày thắng có ngày thua. Trung bình một ngày, T hưởng lợi khoảng 1.000.000 đồng. Tổng số tiền T hưởng lợi khoảng 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Đối với số điện thoại 0984.960.xxx được người phụ nữ tên L sử dụng để nhắn tin mua số lô, số đề với T, hiện đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa nhận được kết quả trả lời của Tập đoàn C1 (V) để xác minh thông tin chủ thuê bao, ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến số điện thoại 0984.960.xxx nhắn tin mua số lô, số đề của Đặng Thị T để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Thị T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chí H; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Khắc H3; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen, đã qua sử sụng, thu giữ của Vũ Anh T3, Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa và số tiền 7.000.000 đồng chuyển đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa để giải quyết theo thẩm quyền.
Cáo trạng số 79/CT-VKSĐĐ ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo Nguyễn Chí H, Đặng Thị T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c, khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Nguyễn Khắc H3 và Vũ Anh T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và rất ân hận với hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo T, bị cáo H thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tổ chức đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo H3, bị cáo T3 thừa nhận việc bị truy tố về tội “ Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 36 đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023; áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H3 từ 13 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Anh T3 từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Thị T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chí H; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Khắc H3; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen, đã qua sử sụng, thu giữ của Vũ Anh T3.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 18.000.000đồng (Mười tám triệu đồng) sung công Quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 15.300.000đồng, bị cáo đã nộp 7.000.000 đồng nên bị cáo còn phải nộp 8.300.000 đồng ( Tám triệu ba trăm nghìn đồng) sung công Quỹ nhà nước.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại của các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Tại khu vực ngõ A, phố K, phường K, quận Đ, Hà Nội, từ ngày 16/12/2023 đến ngày 18/12/2023, Đặng Thị T và Nguyễn Chí H có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số đề, số lô cho khách qua tin nhắn điện thoại, trong đó có 03 ngày tổ chức đánh bạc với số tiền mỗi ngày trên 20.000.000 đồng ( hai mươi triệu đồng) nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, từ ngày 16/12/2023 đến ngày 18/12/2023, Nguyễn Khắc H3 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, đề, trong đó có 3 (ba) ngày tham gia đánh bạc với số tiền mỗi ngày trên 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ngày 18/12/2023 Vũ Anh T3 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, đề với số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Hành vi của bị cáo Đặng Thị T, Nguyễn Chí H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Khắc H3 và bị cáo Vũ Anh T3 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo Đặng Thị T và bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ.
Đối với bị cáo Đặng Thị T, Hội đồng xét xử xác định bị cáo giữ vai trò chính, bị cáo tổ chức đánh bạc với vai trò là người nhận lại bảng lô, đề từ bị cáo H và trực tiếp thanh toán tiền thắng thua cho H để H thanh toán cho khách ghi lô, đề nếu khách trúng thưởng, ngoài ra ngày 18/12/2023 bị cáo còn trực tiếp ghi lô, đề cho khách chơi lô, đề. Cụ thể: ngày 16/12/2023 bị cáo T tổ chức đánh bạc với số tiền 25.437.500 đồng, ngày 17/12/2023 bị cáo T tổ chức đánh bạc số tiền 22.369.500 đồng, ngày 18/12/2023 bị cáo T tổ chức đánh bạc số tiền 153.904.000 đồng và trực tiếp ghi số lô, số đề cho người phụ nữ tên L với số tiền đánh bạc là 5.670.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo T tổ chức đánh bạc trong ba ngày là 207.381.000 đồng. Đối với bị cáo Nguyễn Chí H đồng phạm với bị cáo T với vai trò sau bị cáo T, bị cáo trực tiếp ghi số lô, đề cho khách và chuyển lại bảng lô, đề cho bị cáo T với mục đích hưởng phần trăm chênh lệch. Cụ thể: Ngày 16/12/2023 bị cáo H tổ chức đánh bạc với số tiền 25.625.000 đồng, ngày 17/12/2023 bị cáo H tổ chức đánh bạc với số tiền 22.950.000 đồng, ngày 18/12/2023 bị cáo H tổ chức đánh bạc với số tiền 154.610.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo H tổ chức đánh bạc trong ba ngày là 203.185.000 đồng.
Đối với bị cáo Nguyễn Khắc H3: Ngày 16/12/2023 bị cáo H3 đánh bạc với số tiền 25.625.000 đồng, ngày 17/12/2023 bị cáo H3 đánh bạc với số tiền 19.250.000 đồng, ngày 18/12/2023 bị cáo đánh bạc với số tiền 14.000.000 đồng.
Đối với bị cáo Vũ Anh T3 có hành vi đánh bạc trong ngày 17/12/2023 với số tiền 3.700.000 dưới 5.000.000 đồng, số tiền đánh bạc trong ngày 18/12/2023 của bị cáo T3 là 20.000.000 triệu đồng nên bị cáo T3 chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “ đánh bạc” đối với ngày 18/12/2023.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự chung của xã hội. Bản thân các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ được hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do tham lam tư lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Đặng Thị T có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội và bị đưa ra truy tố xét xử, khi bị cơ quan công an phát hiện bị cáo đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 03 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Chí H có 01 tiền sự về hành vi “đánh bạc” tuy đã được xoá nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, khi bị cơ quan công an phát hiện bị cáo đầu thú, tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 03 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Khắc H3 ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật tại địa phương, khi bị cơ quan công an phát hiện bị cáo đầu thú và tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo khác, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Vũ Anh T3 có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, khi bị cơ quan công an phát hiện bị cáo đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Đối với bị cáo Đặng Thị T và bị cáo Nguyễn Chí H bị truy tố về tội “tổ chức đánh bạc” là tội phạm nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải có một hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
- Đối với các bị cáo Nguyễn Khắc H3 và Vũ Anh T3 đều có nhân thân tốt, đây là lần đầu tiên bị đưa ra truy tố, xét xử, bị cáo H3 thực hiện hành vi phạm tội 03 lần nhưng các lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện nay bị cáo H3 và bị cáo T3 có nơi cư trú ổn định rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên để tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa thành công dân tốt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cho bị cáo H3, bị cáo T3 được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đảm bảo phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Thị T, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chí H, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Khắc H3, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen, đã qua sử sụng, thu giữ của Vũ Anh T3 là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Về số tiền thu lời bất chính: Buộc bị cáo Đặng Thị T truy nộp 18.000.000 đồng, buộc bị cáo Nguyễn Chí H truy nộp 15.300.000 đồng, bị cáo H đã nộp 7.000.000 đồng nên bị cáo H còn phải truy nộp số tiền 8.300.000 đồng. Đối với số tiền thu lời bất chính của bị cáo H3, bị cáo T3 do thực tế các bị cáo chưa được thanh toán tiền trúng thưởng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với số điện thoại 0984.960.xxx được người phụ nữ tên L sử dụng để nhắn tin mua số lô, số đề với T, hiện đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa nhận được kết quả trả lời của Tập đoàn C1 (V) để xác minh thông tin chủ thuê bao, ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến số điện thoại 0984.960.xxx nhắn tin mua số lô, số đề của Đặng Thị T để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị T và bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Khắc H3 và bị cáo Vũ Anh T3 phạm tội “Đánh bạc”.
2/ Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Đặng Thị T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023.
2.1 Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Chí H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023.
2.2 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc H3 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Khắc H3 cho UBND phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
2.3 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo: Vũ Anh T3 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 20 ( hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2024.
Giao bị cáo Vũ Anh T3 cho UBND phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3/ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) sung công Quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 8.300.000đồng ( Tám triệu ba trăm nghìn đồng) sung công Quỹ nhà nước.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu trắng, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen.
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 172 ngày 17/4/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1049185 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa tại K quận Đ, thành phố Hà Nội.
4/ Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Các bị cáo Đặng Thị T, Nguyễn Chí H, Nguyễn Khắc H3, Vũ Anh T3 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 154/2024/HS - ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 154/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc
