Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2023/HS-ST

Ngày 15-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Phong Lan

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 664/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị M, sinh năm 1983 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số C Chợ A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng S và bà Đoàn Thị M1; có chồng là Đoàn Văn K và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/9/2023; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH A; địa chỉ trụ sở: Số C đường B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số B H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng (Giấy uỷ quyền số AL/2021/087 ngày 30/8/2021); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 13/7/2023, Nguyễn Thị M đi một mình đến Trung tâm B, Hải Phòng (gọi tắt là Siêu thị B) với mục đích để mua sắm. Mùa đi loanh quanh tại khu vực tầng 1 siêu thị B chọn mua và thanh toán 05 túi rong biển, 05 hộp rong nhỏ và được nhân viên cho vào túi của siêu thị, dán tem đã thanh toán vào miệng túi. Lúc này, M quan sát thấy các gian hàng không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp các sản phẩm hàng hoá của siêu thị. Mùa đẩy xe lần lượt tới các quầy tại tầng 1 siêu thị AEON để lấy trộm 96 sản phẩm hàng hoá tại các quầy. Sau khi lấy xong các sản phẩm cho vào xe đẩy, M đợi vắng người qua lại rồi cho các sản phẩm vào túi môi trường AEON và các túi ni lông trắng có sẵn đựng các sản phẩm theo cân của siêu thị rồi cho toàn bộ lên xe đẩy. Mùa đẩy xe hàng không qua cửa thanh toán mà đi thẳng ra cửa số 10 đến bãi gửi xe cổng G cách cửa số 10 khoảng 40m thì bị nhân viên an ninh siêu thị bắt quả tang cùng tang vật và bàn giao cho Công an phường K biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 72/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận L kết luận: “Giá trị của các tài sản hàng hoá Nguyễn Thị M chiếm đoạt là 7.198.000 đồng”.

Tại Quyết định truy tố số 169/CT-VKSLC ngày 31/10/2023 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và Quyết định truy tố đã nêu.

Bị hại (Công ty TNHH A) trình bày nội dung như nêu trên: Tài sản của Công ty bị Mùa chiếm đoạt là 96 sản phẩm các loại. Toàn bộ 96 sản phẩm đã được thu hồi trả lại cho Công ty TNHH A, Công ty TNHH A không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị M và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị M mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 13/7/2023, Nguyễn Thị M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 96 sản phẩm các loại trị giá 7.198.000đồng (Bảy triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng) của Siêu thị B, Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Song theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[8] Tài sản bị cáo chiếm đoạt (96 sản phẩm các loại), hiện đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại - Công ty TNHH A không còn yêu cầu bồi thường gì khác. Như vậy trách nhiệm bồi thường dân sự đã được giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

- Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Thị M 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị M cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Thị M.

  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 154/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mùa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger