Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2023/DS-ST

Ngày: 19 – 12 – 2023

“V/v tranh chấp hợp

đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Min

Ông Nguyễn Quốc Trung

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2023/TLST-DS, ngày 01 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-DS, ngày 08 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ấp Tân Long B, xã Tân Dân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Trần Văn L là bà Nguyễn Tố Như, sinh năm 1995 theo văn bản ủy quyền ngày 06/4/2023 (Có mặt).

Địa chỉ: Số 83, Đinh Tiên Hoàng, khóm 4, phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: 1. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1982 (có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1985 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Khóm Cái Nước, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Trần Văn L trình bày:

Năm 2010 vợ chồng ông Toản, bà Bé có mua thức ăn nuôi tôm của ông, việc mua bán kéo dài đến ngày 18/6/2019 thì ngưng, hai bên kết toán ông Toản, bà Bé còn nợ tiền mua thức ăn của ông Lực tổng cộng bằng 150.769.750 đồng, ông Toản ký xác nhận khoản nợ trên. Do ông Toản, bà Bé không thanh toán nợ nên yêu cầu Tòa buộc vợ ông Toản, bà Bé trả cho ông tiền nợ mua thức ăn, vật tư phục vụ nuôi tôm tổng cộng bằng 150.769.750 đồng và lãi chậm trả từ ngày 18/3/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ông Trần Thanh T trình bày:

Ông nhận có mua thức ăn, vật tư, thuốc thú ý nuôi trồng thủy sản từ ông Lực và viết, ký biên nhận nhận nợ do ông Lực cung cấp. Theo ông việc ký biên nhận là do bị ông Lực ép buộc, khi viết và ký biên nhận nợ này chỉ ghi vào sổ nháp, chưa quyết toán cụ thể. Nay ông yêu cầu ông Lực cung cấp hợp đồng mua bán, hóa đơn nhận hàng; đối chiếu nợ với danh mục các mặt hàng thuốc thú y nuôi trồng thủy sản ông Lực bán cho ông để xác định hàng hoá trên có được phép lưu hành trên thị trường nếu không chứng minh được ông không đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của ông Lực.

Tại phiên toà ông Toản xác định việc mua bán thức ăn nuôi trồng thủy sản trên do ông mua của ông Lực, không có liên quan đến trách nhiệm của vợ ông là bà Nguyễn Thị B và đồng ý thanh toán cho ông Lực các khoản nợ mua thức ăn, vật tư, thuốc thú ý nuôi trồng thủy sản từ ông Lực trong suốt quá trình mua bằng 100.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị B trình bày:

Thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của ông Toản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và được xem xét đối chiếu với kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông Trần Văn L và ông Toản, bà Bé là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” được quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có địa chỉ tại khóm Cái Nước, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Đại diện nguyên đơn yêu cầu buộc ông Toản, bà Bé thanh toán tiền mua thức ăn, vật tư, thuốc thú ý nuôi trồng thủy sản từ ông Lực bằng 150.769.750 đồng và lãi chậm trả từ ngày 18/3/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm, mức lãi suất là 0,83%/tháng thành tiền bằng 41.295.834 đồng.

[2.1] Đại diện nguyên đơn xác nhận ông Lực có chấp nhận đến ngày 18/6/2021 ông Toản thanh toán cho ông Lực 100.000.000 đồng là xem như trả dứt nợ cho ông Lực, thực tế Toản không thực hiện cam kết trên nên ông Lực yêu cầu vợ chồng ông Toản, bà Bé thanh toán đủ tiền nợ 150.769.750 đồng và lãi chậm trả của số tiền trên cho ông Lực.

Ngoài nội dung nêu trên, tranh tụng tại phiên toà ông Toản không nhận trách nhiệm thanh toán nợ vốn, lãi cho ông Lực với nhiều lý do, cụ thể: ông Toản cho rằng bị ông Lực ép viết và ký các biên nhận nợ; các biên nhận nợ trên ông xác định chỉ ghi vào sổ nháp nên không có giá trị; yêu cầu ông Lực cung cấp hợp đồng mua bán, hóa đơn nhận hàng; đối chiếu hàng hoá nhận mua với danh mục hàng hoá ông lực bán cho ông để xác định các hàng hoá này được phép lưu hành hợp pháp trên thị trường là điều kiện ông trả nợ cho ông Lực.

Nếu phải thực hiện nghĩa vụ ông Toản chỉ đồng ý thanh toán cho ông Lực 100.000.000 đồng như trước đây đã thoả thuận.

[2.3] Do chính ông Toản là người xác nhận lượng tiền nợ mua hàng của ông Lực, ông Toản không chứng minh được việc bị ông Lực cưởng ép ghi biên nhận nợ, hàng hoá bản thân ông Toản đã sử dụng nên không có căn cứ chấp nhận các lý do của ông Toản đặt ra đê khước từ nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông Lực.

Đối với đề xuất thanh toán 100.000.000 đồng theo cam kết ông Toản ghi cho ông Lực: Thực tế cho đến nay ông Toản không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Lực như cam kết nên ông Lực khước từ giảm nợ cho ông Toản, buộc ông Toản trả đủ nợ 150.769.750 đồng là yêu cầu chính đáng của ông Lực, phù hợp với qui định của pháp luật.

[2.4] Đối với yêu cầu của ông Lực buộc ông Toản, bà Bé trả lãi chậm thanh toán: Theo đơn kiện, nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn thanh toán lãi chậm trả nhưng khi hòa giải ngày 16/02/2023 nguyên đơn không đặt ra yêu cầu buộc ông Toản, bà Bé trả lãi do chậm thanh toán - đây là sự tự nguyện của nguyên đơn trong việc thay đổi nội dung khởi kiện nên Toà không tiến hành hoà giải nội dung yêu cầu khởi kiện này. Tại phiên toà nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm trả là vượt phạm vi xác định yêu cầu khởi kiện khi hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do đó, không xét nội dung khởi kiện của ông Lực phần yêu câu buộc ông Toản, bà Bé thanh toán lãi chậm trả, sau này ông Lực có yêu cầu được xét tại vụ án khác.

[2.5] Tại phiên toà ông Toản xác định việc mua bán thức ăn nuôi trồng thủy sản do ông mua của ông Lực, không liên quan đến trách nhiệm của vợ ông là bà Nguyễn Thị B.

Bà Bé, ông Toản là vợ chồng, hai đương sự nhận: Trong thời gian hôn nhân tồn tại là thời gian ông Toản mua thức ăn nuôi tôm công nghiệp của ông Trần Văn L phục vụ phát triển kinh tế gia đình, bà Bé không trực tiếp mua nhưng hưởng lợi trực tiếp từ việc nuôi tôm của ông Toản. Nên xác định đây là khoản nợ chung của ông Toản và bà Bé trong thời kỳ hôn nhân, buộc bà Bé liên đới với ông Toản trả nợ cho ông Trần Văn L là phù hợp.

Từ phân tích trên, chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Thanh T, bà Nguyễn Thị B trả cho ông Trần Văn L 150.769.750 đồng và không xét nội dung khởi kiện của ông Lực phần yêu cầu buộc ông Toản, bà Bé thanh toán lãi chậm trả, sau này ông Lực có yêu cầu được xét tại vụ án khác.

[6] Án án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 266, 271 và 273 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận khởi kiện của ông Trần Văn L.
  2. Buộc ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị B phải liên đới trả cho ông Trần Văn L số tiền là 150.769.750 đồng (Một trăm năm mươi triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn bày trăm năm mươi đồng).
  3. Không xét nội dung khởi kiện của ông Lực phần yêu cầu buộc ông Toản, bà Bé thanh toán lãi chậm trả, sau này ông Lực có yêu cầu được xét tại vụ án khác.
  4. Trong trường hợp ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị B chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.538.500 đồng (Bảy triệu năm trăm ba mươi tám nghìn năm trăm đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Ông Trần Văn L không phải chịu án phí, đã qua có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 3.769.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008761, ngày 01 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, ông Trần Văn L, ông Trần Thanh T, bà Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 154/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn L trình bày: Năm 2010 vợ chồng ông Toản, bà Bé có mua thức ăn nuôi tôm của ông, việc mua bán kéo dài đến ngày 18/6/2019 thì ngưng, hai bên kết toán ông Toản, bà Bé còn nợ tiền mua thức ăn của ông Lực tổng cộng bằng 150.769.750 đồng, ông Toản ký xác nhận khoản nợ trên. Do ông Toản, bà Bé không thanh toán nợ nên yêu cầu Tòa buộc vợ ông Toản, bà Bé trả cho ông tiền nợ mua thức ăn, vật tư phục vụ nuôi tôm tổng cộng bằng 150.769.750 đồng và lãi chậm trả từ ngày 18/3/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông Trần Thanh T trình bày: Ông nhận có mua thức ăn, vật tư, thuốc thú ý nuôi trồng thủy sản từ ông Lực và viết, ký biên nhận nhận nợ do ông Lực cung cấp. Theo ông việc ký biên nhận là do bị ông Lực ép buộc, khi viết và ký biên nhận nợ này chỉ ghi vào sổ nháp, chưa quyết toán cụ thể. Nay ông yêu cầu ông Lực cung cấp hợp đồng mua bán, hóa đơn nhận hàng; đối chiếu nợ với danh mục các mặt hàng thuốc thú y nuôi trồng thủy sản ông Lực bán cho ông để xác định hàng hoá trên có được phép lưu hành trên thị trường nếu không chứng minh được ông không đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của ông Lực. Tại phiên toà ông Toản xác định việc mua bán thức ăn nuôi trồng thủy sản trên do ông mua của ông Lực, không có liên quan đến trách nhiệm của vợ ông là bà Nguyễn Thị B và đồng ý thanh toán cho ông Lực các khoản nợ mua thức ăn, vật tư, thuốc thú ý nuôi trồng thủy sản từ ông Lực trong suốt quá trình mua bằng 100.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger